Hồi ký "Ký ức Đời binh nghiệp". THAY LỜI KẾT
- 20 thg 2
- 4 phút đọc
Đã cập nhật: 5 thg 4
Trong suốt chặng đường hơn nửa thế kỷ làm cách mạng. với tôi có biết bao ký ức vui buồn cuộc đời binh nghiệp.
Tôi không thể nào quên cuộc sống cơ cực lầm than của người dân xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất quê tôi, phải sống dưới gót giày thực dân, phong kiến. Tôi tận mắt chứng kiến cảnh hơn 400 người dân của xã Đại Đồng chết đói năm 1945. Trong số ấy, có hai người chú ruột của tôi cũng chết tất tưởi vì đói. Ông nội tôi mất đang độ tuổi 30 cùng với bảy người em ruột của tôi cũng chết vì ốm đau và thiếu đói, nhà quá nghèo không có tiền mua thuốc, từng người cứ tuột khỏi tay người thân... Những ký ức đau thương ấy còn đeo đẳng tôi suốt cuộc đời.
Khi tôi trưởng thành, mỗi lần nhìn lại cuộc đời, tôi thấy mình mang ơn nhiều người. Nhưng ơn cao nhất là bố mẹ đã sinh thành ra tôi. Suốt đời bố mẹ tôi vất vả, áo rách không kịp vá, chạy bữa sáng lo bữa tối, quanh năm nợ, nợ chất chồng. Tôi chịu ơn bố, vì ông là người luôn động viên tôi học chữ Nho, rồi học chữ quốc ngữ. Ông đã vạch đường, chỉ hướng, luyện rèn chíkhí cho tôi từ thuở ấu thơ. Người thứ hai tôi mang ơn là ông đồ Dậu, đã dạy tôi 7 năm liên tục chữ Nho. Rồi đến ông giáo Hào dạy chữ quốc ngữ, tôi đã đỗ bằng "Sơ học yếu lược". Các ông đã coi tôi như con đẻ, dạy tôi biết chữ, và diễu trọng yếu là cho tôi kiến thức và biết lẽ sống làm người...
Rồi những ngày tôi tham gia cách mạng ở địa phương, bị dịch bắt tù đày trong nhà tù đế quốc, chịu bao cực hình tra tấn dã man. Tôi cùng mấy người bạn tù vượt ngục để trở về cùng các đồng chí tiếp tục hoạt động. Tháng 9 năm 1950 tôi vào bộ đội ở Trung đoàn 48 Đại đoàn 320, chiến đấu liên tục ở Sơn Tây, Hòa Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định và Thái Bình. Trong cuộc đời binh nghiệp, tôi may mắn được sống và chiến đấu dưới quyền của Đại tướng Văn Tiến Dũng -Đại đoàn trưởng những năm đầu đại đoàn thành lập. Tôi học được ở ông tác phong chỉ huy đã nổ súng là thọc sâu đánh chiếm sở chỉ huy địch làm cho chúng nhanh chóng tan rã. Tôi học được ở Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Kim Tuấn - người chỉ huy quả cảm, sáng tạo, bản lĩnh chỉ huy kiên quyết cả khi đơn vị gặp tình huống khó khăn hiểm nghèo.
Trong chống Mỹ, cứu nước, tôi may mắn được làm việc dưới quyền tướng Vũ Lăng. Tôi học được ở ông sự quyết đoán, tác phong sâu sát và sự mưu lược trong chiến dịch Tây Nguyên mùa Xuân 1975. Tôi cũng học được ở tướng Đặng Vũ Hiệp về nghệ thuật tiến hành công tác đảng, công tác chính trị nhất là công tác tư tưởng, công tác tổ chức và xây dựng quyết tâm chiến đấu... Tất cả những phẩm chất, kinh nghiệm và bản lĩnh của các bậc thầy đi trước giúp tôi khi ở cương vị Tư lệnh Quân đoàn 3, nhất là khi làm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1, tôi đã vận dụng vào việc lãnh đạo, chỉ huy và truyền thụ cho những sĩ quan tương lai...
Tôi và Vân lấy nhau sinh được 6 người con, mất hai - một trai Khuất Sơn Hải (cháu mất lúc 5 tuổi) và gái Khuất Hải Yến (cháu mất khi 17 tuổi). Còn lại bốn người con, các cháu học hành đến nơi, đến chốn, trưởng thành trên các cương vị công tác của mình: Khuất Việt Dũng - Thiếu tướng, Tiến sĩ, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp quốc phòng; cháu gái Khuất Thu Hồng - Tiến sĩ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội; cháu gái Khuất Hải Oanh - Thạc sĩ, Bác sĩ, Giám đốc Trung tâm phát triển xã hội và con trai út Khuất Việt Hùng - Tiến sĩ, Phó Cục trưởng Cục Vận tải - Bộ Giao thông vận tải.
Trong cuộc trường chinh gian khổ hơn 50 năm đã qua, nhớ làm sao hết, ghi làm sao đầy đủ được vì vậy có sự kiện nào chưa đúng, tên ai đó còn nhầm tôi mong được lượng thứ! Cuốn sách nhỏ này, trước hết xin được dâng lên cha mẹ kính yêu đã sinh thành, dưỡng dục tôi nên người. Tôi cũng gửi tới những bậc thầy, và các anh hùng, liệt sĩ đã dâng hiến cả cuộc đời vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Tôi gửi tới những đồng đội, những người đã từng sát cánh chiến đấu cùng tôi trên các chiến trường trong nước và nước bạn. Giờ đây, tôi thấy mình thực sự thanh thản và tự hào, vì đã sống, chiến đấu, vì cả cuộc đời đã hiến dâng cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Bác Hồ.
Nhân cuốn sách được xuất bản, tôi chân thành cảm ơn Đại tá Lê Hải Triều đã giúp tôi thể hiện cuốn hồi ức này; xin cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã cho ra mắt bạn đọc cuốn sách của tôi đúng vào dịp 67 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Viết xong đầu tháng 8 năm 2012.





Bình luận