top of page

Hồi ký "Ký ức Đời binh nghiệp". Chương 7. THAM GIA CHIẾN DỊCH MANG TÊN BÁC

  • 7 thg 1
  • 46 phút đọc

Đã cập nhật: 5 thg 4

GIỮA lúc khối chủ lực Tây Nguyên đang tiến về cùng với quân và dân địa phương giải phóng các tỉnh đồng bằng Nam Trung Bộ, thì ngày 27 tháng 3 năm 1975, anh Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu phó điện thông báo quyết định của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thành lập Quân đoàn 3. Tổ chức Quân đoàn gồm: Bộ Tư lệnh do đồng chí Vũ Lăng - Tư lệnh, đồng chí Đặng Vũ Hiệp - Chính ủy, các anh Nguyễn Năng, Nguyễn Kim Tuấn - Phó Tư lệnh, anh Phí Triệu Hàm - Phó Chính ủy. Ba cơ quan Mặt trận Tây Nguyên chuyển thành Bộ Tham mưu do anh Hồ Đệ - Tham mưu trưởng, các anh Nguyễn Quốc Thước, Lê Minh - Tham mưu phó. Cục Chính trị do anh Thái Bá Nhiệm - Chủ nhiệm, anh Nguyễn Đăng - Phó Chủ nhiệm. Cục Hậu cần do anh Cấn Văn Tại - Chủ nhiệm, các anh Đặng Văn Khoát, Đỗ Thuyên, Lưu Sĩ Hiệp - Phó Chủ nhiệm. Đồng thời, Thường vụ Quân ủy Trung ương cũng chỉ định Đảng ủy Quân đoàn gồm các đồng chí: Đặng Vũ Hiệp - Bí thư, Vũ Lăng - Phó Bíthư; các đảng ủy viên chính thức: Phí Triệu Hàm, Nguyễn Kim Tuấn, Nguyễn Quốc Thước, Lã Ngọc Châu, Bùi Huy Bổng, Hà Quốc Toản, Đoàn Hồng Sơn, Nguyễn Hải Bằng, Nguyễn Hữu Hưu, Nguyễn Minh Khang; ủy viên dự khuyết: Bùi Đình Hòe và Bùi Tố Tọa.

Quân đoàn 3 gồm ba sư đoàn:

Sư đoàn 10 do anh Đoàn Hồng Sơn - Sư đoàn trưởng; anh Lã Ngọc Châu - Chính ủy; anh Võ Khắc Phụng - Sư đoàn phó; anh Lưu Quý Ngữ - Phó Chính ủy.

Sư đoàn 320 do anh Bùi Đình Hòe - Sư đoàn trưởng; anh Bùi Huy Bổng - Chính ủy; anh Ngô Huy Phát - Sư đoàn phó; anh Đặng Văn Trượng - Phó Chính ủy.

Sư đoàn 316 do anh Nguyễn Hải Bằng - Sư đoàn trưởng, anh Hà Quốc Toản - Chính ủy, anh Nguyễn Hữu Thơi - Sư đoàn phó, anh Đoàn Văn Độ - Phó Chính ủy.

Các đơn vị binh chủng gồm có: Trung đoàn đặc công 198 do anh Trần Kình - Trung đoàn trưởng, Lê Văn Tích - Chính ủy; 2 đơn vị pháo mặt đất gồm: Trung đoàn 40 chuyển thành lữ đoàn pháo binh do anh Nguyễn Hữu Vinh - Lữ đoàn trưởng, Mai Sinh Giá - Chính ủy. Lữ đoàn 40 được biên chế 4 tiểu đoàn pháo nòng dài. Trung đoàn 675 do anh Trần Đình Sai - Trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Xuân Dục - Chính ủy; 3 trung đoàn cao xạ: Trung đoàn 593 do anh Nguyễn Duy Sơn - Trung đoàn trưởng, Phạm Minh Mẫn - Chính ủy; Trung đoàn 234 do anh Nguyễn Văn Lương - Trung đoàn trưởng; Vũ Xuân Sắc - Chính ủy; Trung đoàn 232 do anh Nguyễn Văn Hách - Trung đoàn trưởng, Trần Đình Khánh -Chính ủy (Bộ sẽ đưa vào 1 đại đội tên lửa phòng không chiến thuật A72); Lữ đoàn xe tăng 273 do anh Lê Mai Ngọ - Lữ đoàn trưởng, Vũ Đình Tư - Chính ủy; chuyển Trung đoàn công bình 7 thành lữ đoàn do anh Lê Hữu Công - Lữ đoàn trưởng, Đoàn Văn Khoát - Chính ủy; Trung đoàn thông tin 29 do anh Lê Đức Đệ - Trung đoàn trưởng, Đỗ Giả - Chính ủy. Quân số Quân đoàn khoảng từ 45 đến 47 ngàn người.

Sau chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế - Đà Nẵng đã giáng tiếp cho quân ngụy Sài Gòn đòn chiến lược thứ hai, đẩy chúng lâm vào tình thế cực kỳ bi đát (2 trong số 4 quân khu của địch đã bị xóa sổ, với 35% sinh lực, 40% cơ sở vật chất; 12 tỉnh với 8 triệu dân được giải phóng). Về phía cách mạng, khíthế giải phóng miền Nam của quân và dân ta dâng lên mạnh mẽ. Lực lượng quân sự, chính trị của ta dồi dào và sung sức, tạo ra một thời cơ chiến lược mới rất thuận lợi để giải phóng Sài Gòn - Gia Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

 

Ngày 31 tháng 3, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp | đánh giá tình hình đã kết luận: Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển tổng khởi nghĩa vào sào huyệt của địch đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta bắt đầu, nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc.

Cách mạng nước ta đang phát triển sôi nổi nhất với nhịp độ một ngày bằng 20 năm. Vì vậy, Bộ Chính trị quyết định: [ "Nắm vững hơn nữa thời cơ chiến lược với tư tưởng thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn, thực hiện tổng công kích - tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4, không thể để chậm".

Cả nước tập trung sức người, sức của cho trận đánh cuối cùng kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc. Ở miền Bắc, thanh niên nam nữ trong các cơ quan, nhà máy, hợp tác xã, công trường, trường học... hăng hái xung phong lên đường nhập ngũ. Mọi phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường biển, đường không đều được huy động tối đa chi viện cho mặt trận. Trên quốc lộ số 1 và các trục đường chiến lược từng đoàn xe chở bộ đội, xe chở hàng hóa, xe kéo pháo kín lá ngụy trang nối nhau ngày đêm chạy về chiến trường trọng điểm. Các quân đoàn, binh đoàn chủ lực của ta từ khắp các mặt trận cũng được lệnh hội quân về giải phóng Sài Gòn - Gia Định.

Quân đoàn 4 sau khi giải phóng Lâm Đồng, Di Linh đã chuyển lực lượng về phía đông, tiến công vào sư đoàn 18 ngụy ở Xuân Lộc.

Quân đoàn 2 và Sư đoàn 3 Quân khu 5 sau khi đập tan tuyến phòng thủ Phan Rang đang tiến công về Long Thành, Bà Rịa, Vũng Tàu, Nước Trong.

Ở phía tây nam, Quân khu 8 và Quân khu 9 áp sát lực lượng ra ven đường số 4, chuẩn bị cắt đứt con đường quan trọng bậc nhất nối Sài Gòn với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Đoàn 232 đang tiến vào tuyến phòng thủ sông Vàm Cỏ Đông và Hậu Nghĩa.

Ở phía bắc, Quân đoàn 1 theo quốc lộ 1 đang tiến vào khu vực tập kết ở phía nam tỉnh Sông Bé.

Quân đoàn 3, ngay sau khi giải phóng Phú Yên, Nha Trang, Cam Ranh đã được lệnh tiến về Sài Gòn.

Tin vui được tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định truyền nhanh tới cán bộ, chiến sĩ các đơn vị. Cả quân đoàn náo nức chuẩn bị hành quân. Những công việc chuẩn bị phức tạp trước đây phải giải quyết hàng tuần, hàng tháng thì nay chỉ được phép hoàn thành trong ngày, trong buổi.

Lường trước khó khăn trong cuộc chiến đấu tới, Bộ Tư lệnh Quân đoàn chỉ thị cho các cơ quan và đơn vị tranh thủ mọi điều kiện, chuẩn bị tốt mọi mặt, nhất là đạn pháo và phương tiện vận chuyển. Theo đề nghị của Sư đoàn 10, sau khi Bộ Tư lệnh trao đổi nhất trí cho sư đoàn để lại toàn bộ pháo 122 ly, thay bằng pháo 105 ly thu được của địch vừa đỡ công vận chuyển bổ sung đạn pháo 122 vừa có thể tận dụng được đạn pháo 105 của địch hiện đang dồi dào và còn có nguồn bổ sung trong quá trình chiến đấu.

Mặc dù Đoàn 559 và Hậu cần Quân đoàn đã huy động gần 3.000 chuyến xe chở bộ đội và binh khí kỹ thuật vào Đông Nam Bộ nhưng vẫn còn cần đến hàng trăm xe mới đáp ứng nhu cầu công tác vận chuyển. Để giải quyết khó khăn này, các sư đoàn đã chủ động liên hệ với Ủy ban quân quản địa phương nhờ giúp đỡ. Sư đoàn 10 đã chủ động cử anh Lê Quang Mỹ - Chủ nhiệm chính trị trực tiếp làm việc với Ủy ban quân quản thành phố Nha Trang và thị xã Cam Ranh, đồng thời tận dụng số xe thu được của địch (cả lái xe và lính ngụy ta bắt làm tù binh) tham gia vận chuyển. Riêng Sư đoàn 10 cũng huy động được hơn 60 chiếc xe ca và xe tải lớn. Tại thị xã Buôn Ma Thuột, anh Y Blốc - Chủ tịch Ủy ban quân quản tỉnh Đắk Lắk đã huy động hàng trăm lái xe và 250 xe các loại phục vụ quân đoàn cơ động

Cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên mãi mãi ghi nhớ sự giúp đỡ quý báu của chính quyền và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên và các tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định đối với binh đoàn lúc khó khăn để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ trong chiến dịch lịch sử mang tên Bác.

Có hai sự việc làm tôi nhớ mãi. Thứ nhất, đó là việc phân công người ở lại trông coi hậu cứ phía sau. Việc tưởng đơn giản nhưng lại thành chuyện, chẳng ai chịu ở lại nên nhiều đơn vị phải ra lệnh, phải họp chi bộ, đảng ủy ra nghị quyết lãnh đạo cử cán bộ phụ trách phía sau mới ổn.

Thứ hai, Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn chủ trương đưa tất cả số anh em cán bộ bị kỷ luật "treo giò", được tham gia trận đánh cuối cùng. Ai hoàn thành nhiệm vụ sẽ được xóa hết lỗi lầm trước đó. Sau này chiêm nghiệm lại tôi cho rằng đây là một chủ trương đúng. Do vậy khi chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc, Quân đoàn 3 không có cán bộ nào mắc án kỷ luật.

 

Ngày 4 tháng 4, Tư lệnh Vũ Lăng, anh Quốc Thước cùng tôi (Trưởng phòng Tác chiến), và các phòng trinh sát, pháo binh, công binh, thông tin, pháo binh... đi chuẩn bị chiến trường bắt đầu hành quân vào Đồng Xoài. Tiếp theo là Sư đoàn 316, vừa hành quân chúng tôi vừa chỉ đạo Sư đoàn 320 dang ở Tuy Hòa được lệnh quay trở lại đường số 7, rồi theo đường số 14 hành quân qua Đức Lập, Bu Prăng, Bình Long vào miền Đông Nam Bộ. Sư đoàn 10 hành quân trên hai hướng. Bộ phận đã tới Đơn Dương (Lâm Đồng) tiếp tục đi theo quốc lộ 20 đến Di Linh rẽ sang Gia Nghĩa về Kiến Đức. Bộ phận đang còn ở Nha Trang, Cam Ranh và các đơn vị đang đi trên đường 450 sẽ quay lại đường 21 về Buôn Ma Thuột rồi theo đường 14 về phía nam. Cả hai hướng sẽ hội quân ở Kiến Đức.

Đường vào Nam Bộ còn xa, thời gian chiến dịch mở đến gần, trên tất cả tuyến đường của các đơn vị trong quân đoàn xe chạy không kể ngày đêm, bộ đội chỉ được dừng lại một thời gian ngắn để thổi cơm, nấu nước bổ sung, rồi lại tiếp tục lên đường. Ngồi trên xe không mui, nắng, bụi làm khuôn mặt mọi người đen sạm, nhưng ai nấy đều rất vui. Xe chạy giữa các lô cao su thẳng tắp bạt ngàn. Ở khu vực này đường mới mở cắt ngang đường cũ, có chỗ đến 5, 7 đường ô tô. Ở những ngã ba, ngã tư chúng tôi làm hàng chục tấm biển chỉ đường với nhiều ký hiệu khác nhau: A100, A300, T500... Từng đơn vị nhận ra đường của mình qua các ký hiệu riêng ấy. Ở các trạm ba-ri-e, sĩ quan tham mưu cùng với các chiến sĩ công binh, thông tin truyền đạt thức thâu đêm để hướng dẫn cho các đoàn quân và các doàn xe vào đúng tuyến của mình.

Ngày 12 tháng 4 năm 1975, anh Vũ Lăng và anh Đặng Vũ Hiệp có mặt tại Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh ở phía tây thị trấn Lộc Ninh (căn cứ cơ quan Bộ chỉ huy Miền) để nhận nhiệm vụ.

Tôi được biết, Đại tướng Văn Tiến Dũng thay mặt Bộ Tư lệnh chiến dịch đã phân tích tình hình, thời cơ chiến lược, quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương sử dụng lực lượng tập trung ưu thế đánh thẳng vào Sài Gòn bằng lực lượng đột kích mạnh, tiến công liên tục đến toàn thắng. Về nhiệm vụ của quân đoàn, Đại tướng nói: Quân đoàn 3 với lực lượng trong biên chế tập trung lực lượng từ hướng tây bắc đánh vào Sài Gòn. Đây là hướng chủ yếu, quân đoàn cần tập trung lực lượng, chuẩn bị chu đáo, nhanh chóng tiêu diệt sư đoàn 25 không cho sư đoàn này co cụm về Sài Gòn. Đồng thời tổ chức lực lượng binh chủng hợp thành (cấp sư đoàn) đột kích từ hướng tây bắc đánh chiếm Hóc Môn, sân bay Tân Sơn Nhất, bộ tư lệnh thiết giáp, bộ tư lệnh pháo binh (ở Gò Vấp), nhanh chóng đánh chiếm mục tiêu chủ yếu là bộ tổng tham mưu ngụy; tiêu diệt các ổ đề kháng trong phạm vi quân đoàn phụ trách, bảo vệ các mục tiêu, kho tàng, cơ sở công cộng.

Trong quá trình chuẩn bị phải bám sát địch, sẵn sàng tiêu diệt các trận địa pháo, nếu địch có hành động co cụm phải nhanh chóng tổ chức tiêu diệt (sư đoàn 25 là trọng yếu nhất). Tất cả mọi công tác chuẩn bị phải hoàn thành xong trước ngày 20 tháng 4.

Sau khi nhận nhiệm vụ, Tư lệnh Vũ Lăng giao cho chúng tôi gấp rút xây dựng kế hoạch tác chiến theo nhiệm vụ trên.

Ngày 14 và 15 tháng 4 năm 1975, Bộ Tư lệnh Quân đoàn giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 316, Sư đoàn 320 và các đơn vị binh chủng kỹ thuật. Các anh Bùi Đình Hòe, Bùi Huy Bổng (Sư đoàn 320), Hải Bằng, Hà Quốc Toản (Sư đoàn 316) và các cán bộ đơn vị binh chủng kỹ thuật nhận nhiệm vụ xong đều rất phấn khởi tin tưởng và hạ quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Ngày 16 tháng 4, Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn họp quyết định thăng quân hàm Thiếu tá cho 63 đồng chí; Trung tá cho 36 đồng chí; đề nghị thăng quân hàm cấp Thượng tá cho các đồng chí: Nguyễn Đằng, Bùi Tố Tọa, Thông Sơn, Võ Khắc Phụng, Ngô Huy Phát, Đặng Văn Khoát và tôi. Phong quân hàm cấp Đại tá cho các đồng chí: Nguyễn Đức Giá, Đoàn Hồng Sơn, Đàm Văn Ngụy, Hà Quốc Toản.

Hầu hết số cán bộ Quân đoàn 3 được đề bạt trong đợt tháng 4 năm 1975 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Hồ Chí Minh, nhiều đồng chí được tặng thưởng huân chương, và sau này không ít người trở thành tướng lĩnh.

Sáng ngày 23 tháng 4, anh Vũ Lăng và anh Đặng Vũ Hiệp có mặt lần thứ hai tại Bộ chỉ huy chiến dịch báo cáo quyết tâm và nhận nhiệm vụ chính thức. Nhiệm vụ lần này có thay đổi so với lần thứ nhất. Cụ thể như sau: Với lực lượng trong biên chế, có pháo binh và cao xạ chiến dịch chi viện, quân đoàn đảm nhiệm một hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch từ tây bắc vào Sài Gòn. Dùng lực lượng cỡ sư đoàn hoặc sư đoàn tăng cường tiến công tiêu diệt căn cứ Đồng Dù, thực hiện chia cắt tuyến phòng thủ Đồng Dù, Tân Quy, Củ Chi, Trảng Bàng, bao vây tiêu diệt sư đoàn 25 ngụy không cho địch co cụm về Sài Gòn. Tổ chức lực lượng đột kích mạnh binh chủng hợp thành thọc thẳng vào nội đô Sài Gòn, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, hiệp đồng với đơn vị bạn đánh chiếm bộ tổng tham mưu, dinh Độc Lập; đồng thời có nhiệm vụ giữ vững mục tiêu phụ trách, bảo vệ kho tàng và ổn định trật tự, an ninh thành phố.

 

Trên hướng tiến công của quân đoàn, lực lượng địch khá mạnh. Vòng ngoài có sư đoàn 25, các liên đoàn biệt động quân số 9 và 32, liên đoàn 6 công binh, khoảng 2 vạn tên của trung tâm huấn luyện Quang Trung, trung đoàn thiết giáp số 10, lữ đoàn nhảy dù số 4, 20 tiểu đoàn bảo an ở Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Bình Dương, Gia Định và lực lượng pháo binh có tới 86 khẩu từ 105 đến 175 ly. Ở sân bay Tân Sơn Nhất có sư đoàn 5 không quân, bộ tư lệnh dù, bộ tư lệnh không quân, bộ tư lệnh thiết giáp ngụy. Chiều sâu phòng ngự của địch trên hướng tiến công của Quân đoàn khoảng 100 ki-lô-mét.

Trước khi anh Vũ Lăng và anh Đặng Vũ Hiệp di nhận nhiệm vụ ở Bộ chỉ huy chiến dịch thì Sư đoàn 10 vẫn dang hành quân trên dọc đường, chúng tôi rất lo lắng và theo dõi từng bước đi của sư đoàn này. Bộ Tư lệnh quân đoàn lệnh cho hậu cần quân đoàn tập trung thêm xe và đề nghị với Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ viện thêm phương tiện để đưa Sư doàn 10 đến vị trí đúng quy định:

Thời gian còn lại cho công tác chuẩn bị rất ngắn. Chiến dịch đang thúc giục khẩn trương. Công binh Lữ đoàn 7 và Trung đoàn 575 sau khi bảo đảm dường cơ động cho Sư đoàn 320, Sư đoàn 10 và các đơn vị binh chủng kỹ thuật cũng có mặt đầy đủ ở Minh Thạnh, Dầu Tiếng.

Trong lúc các sư đoàn họp hội nghị quân chính quán triệt nhiệm vụ và thống nhất phương án tác chiến, Phòng Tác chiến chúng tôi chỉ đạo các lực lượng trinh sát, công binh của các đơn vị cũng bắt đầu lên đường bám địch, mở đường. Nếu ở Tây Nguyên, công binh phải san hàng nghìn mét khối đất đá trên những đoạn đường đèo, làm hàng chục bến vượt, ngẩm trong rừng sâu hiểm trở, thì ở đây địa hình trống trải, khó giấu quân và giữ bí mật, nhiều nơi chưa xác định được tuyến, không có bản đồ để đối chiếu với thực địa. Các chiến sĩ công binh, trinh sát đóng giả dân, vượt qua đồn bốt địch, dựa vào trục đường cũ xác định hướng, bí mật phân chia từng đoạn, đánh dấu tuyến rồi mới nổi lại thành trục đường.

20 giờ ngày 20 tháng 4, Chủ nhiệm công binh Quân đoàn Trần Huy Ngọ báo cáo: Bộ đội công binh ghép xong chiếc phà 50 tấn qua Bến Củi. 2 giờ sau, một chiếc phà thứ hai cũng hoàn thành qua Bến Tranh.

19 giờ 30 phút ngày 25 tháng 4, Chủ nhiệm quân y Quân đoàn Nguyễn Tụ báo cáo: Bệnh viện dã chiến và các đội phẫu thuật trên các hướng đã triển khai xong, sẵn sàng tiếp nhận thương binh.

 

20 giờ ngày 25 tháng 4, Bộ Tư lệnh quân đoàn lệnh cho các sư đoàn và các đơn vị xe tăng, pháo binh, cao xạ vượt sang phía tây sông Sài Gòn, bí mật tiến vào vị trí tập kết.

Sư đoàn 10 sau những ngày hành quân vất vả, đêm 25 tháng 4 đã đến vị trí tạm dừng ở Dầu Tiếng an toàn.

Ngày 26 tháng 4, Chủ nhiệm thông tin Quân đoàn Hồ Trọng Tuyến báo cáo: Trung đoàn thông tin 29 cũng hoàn thành hệ thống đường dây liên lạc từ Quân đoàn đến các đơn vị và đường dây vu hồi.

Cùng ngày, anh Thái Bá Nhiệm - Cục trưởng Cục Chính trị Quân đoàn báo cáo nhà in đã hoàn thành nhiệm vụ in khẩu hiệu cổ động và sơ đồ thành phố Sài Gòn thu nhỏ, bắt đầu phát cho các đơn vị; đồng thời cơ quan chính trị quân đoàn phổ biến xuống từng đơn vị bản chỉ thị công tác chính trị chiến dịch. Cán bộ chính trị các đơn vị phổ biến cho anh em ý nghĩa chiến dịch - trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, những nhân tố thắng lợi của chiến dịch mang tên Bác nhằm động viên trách nhiệm và lòng tin tưởng, xây dựng quyết tâm thi đua giành thắng lợi lớn nhất, nhanh nhất, giáo dục tinh thần đoàn kết hiệp đồng giữa các đơn vị, các quân binh chủng, giữa chủ lực và địa phương. Đặc biệt chống tư tưởng do dự, ỷ lại hỏa lực, ỷ vào các đơn vị bạn cũng như biểu hiện chủ quan đơn giản dẫn đến tổn thất đáng tiếc và chống mọi biểu hiện cục bộ địa phương, tranh công đổ lỗi... Từng đơn vị đã cho bộ đội quán triệt những tài liệu trên, toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên trong quân đoàn đã thể hiện quyết tâm mang lá cờ Quyết chiến quyết thắng của Bác cắm ở trung tâm thành phố mang tên Người.

Đêm 28 tháng 4, tức là ngày 17 tháng 3 (âm lịch), Sở chỉ huy Quân đoàn rời từ Dầu Tiếng về Củ Chi. Các đơn vị bộ binh, cao xạ, xe tăng cũng lần lượt vào chiếm lĩnh trận địa. Thành ủy và thành đội Sài Gòn - Gia Định cử những đoàn cán bộ, những tổ biệt động ra tận nơi tập kết của quân đoàn dẫn dường các đơn vị tiến công vào các mục tiêu đã được phân công. Nhiều thanh niên nam nữ và các mẹ, các chị ở Củ Chi, Trảng Bàng bất chấp phi pháo của địch đã đến từng trận địa động viên anh em, thay nhau thức cùng cán bộ, chiến sĩ sửa lại công sự sụt lở, bổ sung thêm lá ngụy trang và nấu nước tiếp tế cho bộ đội. Đó là nguồn cổ vũ lớn lao góp phần tạo nên sức mạnh cho Quân đoàn 3 hoàn thành nhiệm vụ.

Trước đó, ngày 20 tháng 4, Trung đoàn 174 được sự giúp đỡ của bộ đội địa phương và du kích Tây Ninh dẫn đường bất ngờ đánh chiếm và làm chủ đoạn đường dài 7 ki-lô-mét từ cầu Cẩm An đến Bến Mương. Trung đoàn 232 kéo pháo theo sát bộ binh, bảo vệ tốt đội hình vây cắt địch của Trung đoàn 174.

Từ ngày 25 tháng 4, Bộ Tư lệnh quân đoàn ra lệnh cho các trận địa pháo của quân đoàn và các Sư đoàn 316, Sư đoàn 320 gồm 27 khẩu pháo các loại: 85, 105, 122, 130, 155, 12 khẩu cối 120 và 82 ly bắn phá căn cứ Đồng Dù, Củ Chi, Trảng Bàng, Gò Dầu Hạ. Cuộc đấu pháo giữa ta và địch kéo dài liên tục suốt 4 ngày liền. 11 trong số 18 trận địa pháo của địch đã bị tê liệt. Quân ta phá hủy 22 pháo 105 ly, 12 khẩu pháo 155 ly, bắn cháy 12 kho đạn và xăng dầu của địch.

Lực lượng pháo binh bị đánh tê liệt làm cho thế phòng ngự của sư đoàn 25 ngụy ở hướng tây bắc Sài Gòn giảm hẳn. Trước tình hình đó, địch âm mưu đưa sư đoàn 25 về Đồng Dù lập lá chắn ngăn chặn ta tiến công. Bộ Tư lệnh quân đoàn lệnh cho Sư đoàn 316 cắt đường khóa chặt quân địch ở Phước Mỹ.

Cùng thời gian này ở cánh Đông, Quân đoàn 2 đánh chiếm căn cứ Nước Trong, chi khu quân sự Long Thành, Phước Tường và tiến về thị xã Bà Rịa.

 

Quân đoàn 4, sau khi giải phóng Xuân Lộc, phát triển tiến công đánh chiếm Trảng Bom. Đặc công diệt địch và chiếm cầu Rạch Chiếc, Rạch Cát, cầu Ghềnh, mở đường cho bộ đội chủ lực tiến vào. Pháo binh ta đánh phá sân bay Biên Hòa, địch phải di chuyển máy bay về Tân Sơn Nhất. Quân khu 8 cắt đứt dường số 4 doạn Bến Lức đi ngã ba Trung Lương. Đoàn 232 đánh chiếm cầu An Ninh, Lộc Giang trên sông Vàm Cỏ Đông. Trung đoàn 24A và Trung đoàn 88 đang tiến về phía nam quận 8 Sài Gòn. Quân đoàn 1 vượt đường 16 tiến đến bắc Lái Thiêu 7 ki-lô-mét.

Sau khi Sở chỉ huy quân đoàn về Củ Chi, ngay trong đêm 28 tháng 4, Bộ Tư lệnh quân đoàn đã xem xét tình hình phát triển tiến công trên các hướng chiến dịch và cuộc tiến công của Sư đoàn 316, quyết định cho Sư đoàn 320, Sư đoàn 10 hành quân chiếm lĩnh trận địa. Đồng thời lệnh cho Sư đoàn 10 phải nắm chắc Trung đoàn đặc công 198 và Trung đoàn 64, phối hợp xử trí kịp thời kế hoạch đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng và bàn đạp Hóc Môn. Sư đoàn 320 phải giữ vững quyết tâm, tập trung lực lượng đánh chiếm căn cứ Đồng Dù nhanh gọn. Sư đoàn 316 đưa lực lượng áp sát vây chặt chi khu Trảng Bàng, nắm vững thời cơ địch rối loạn, chuyển sang tiến công tiêu diệt chi khu quân sự Trảng Bàng. Các trận địa pháo chuẩn bị sẵn phần tử bắn vào Đồng Dù và sẵn sàng cơ động pháo, đài quan sát vào Hóc Môn chi viện cho Sư đoàn 10 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất. Công binh phải sẵn sàng các đội cầu, thuyền để trong trường hợp địch phá sập cầu thì nhanh chóng vào bắc lại cầu Bông, cầu Sáng. Bộ Tư lệnh quân đoàn nhắc các đơn vị phải quán triệt đầy đủ tư tưởng chỉ đạo của Bộ Tư lệnh chiến dịch, vượt qua mọi ác liệt, khó khăn, thực hiện tốt phương châm và tư tưởng chỉ đạo tác chiến "mạnh bạo, chắc thắng, đánh mạnh, đánh liên tục, nắm chắc thời cơ, thọc sâu, phát triển nhanh" không được do dự dừng lại.

Bộ Tư lệnh quân đoàn cho rằng thời gian nổ súng tiến công căn cứ Đồng Dù của Sư đoàn 320 và đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng của Trung đoàn đặc công 198 có quan hệ mật thiết đến mũi thọc sâu của Sư đoàn 10. Chỉ cần nổ súng không đúng thời cơ là địch có thể gây khó khăn cho ta.

Cầu Bông nằm trên đường số 1, cầu Sáng nằm trên đường số 15, là hai con đường độc đạo chạy giữa cánh đồng lúa Hậu Nghĩa, Củ Chi vào Sài Gòn. Xung quanh là đầm lầy, không có đường nào khác cho xe tăng và bộ binh cơ động vào nội thành. So với các mục tiêu khác thì lực lượng địch ở đây không đáng kể, chỉ có tiểu đoàn biệt động dù 81. Điều đáng nói là bọn này rất xảo quyệt, các trụ cầu chúng đều đặt một lượng thuốc nổ khá lớn, sẵn sàng phá sập cầu nếu bị ta tiến công. Nếu đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng trước khi tiến công Đồng Dù địch có thể dùng lực lượng phản kích giải tỏa, ngược lại đánh Đồng Dù sớm và khi Đồng Dù có nguy cơ bị diệt, địch sẽ cho nổ bộc phá hoặc dùng không quân đánh sập cầu, chặn đường tiến công của ta. Bộ Tư lệnh quân đoàn chỉ đạo cơ quan tác chiến chúng tôi bàn tính kỹ theo ba phương án: Sử dụng đặc công lót sẵn đánh chiếm và giữ cầu Bông, cầu Sáng, nếu đặc công gặp khó khăn thì tăng cường bộ binh đánh chiếm. Nếu địch phá cầu trước, ta dùng lực lượng cơ động vượt qua kênh Sáng đánh chiếm bàn đạp phía nam, đưa công binh và hai tiểu đoàn cao xạ vào bắc lại cầu, bảo vệ đường tiến công của quân đoàn. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, Bộ Tư lệnh quân đoàn quyết định thời cơ đánh chiếm cầu Bông, cấu Sáng và bàn đạp Hóc Môn lúc Sư đoàn 320 siết chặt vòng vây căn cứ Đồng Dù, nhốt chặt sư đoàn 25 ngụy và bắt đầu tiến công. Đây là thời cơ chiến đấu chỉ diễn ra tính từng phút, do vậy yêu cầu các đơn vị vừa hiệp đồng chặt chẽ vừa hành động chính xác, khẩn trương.

Đồng Dù là một căn cứ rộng khoảng 8 ki-lô-mét vuông nằm trên đường Sài Gòn đi Tây Ninh, trước đây do sư đoàn 25 "Tia chớp nhiệt đới" Mỹ xây dựng và đóng ở đó. Căn cứ này thực sự là "cánh cửa thép" án ngữ phía tây bắc Sài Gòn, từ dây còn có trục đường giao thông nối với Bình Dương và Hậu Nghĩa. Do vị trí quan trọng của nó nên từ lâu Mỹ - ngụy đã ra công xây dựng Đồng Dù thành căn cứ xuất phát hành quân hỗn hợp quy mô lớn ra các vùng Củ Chi, Bầu Bàng, Bến Cát, Bến Súc (Tây Ninh). Xung quanh căn cứ địch xây dựng hệ thống hàng rào, vật chướng ngại phòng thủ rất kiên cố và phức tạp với gần chục hàng rào dây kẽm gai và những bãi mìn chống tăng, chống bộ binh dày đặc. Tiếp đó là 2 lớp tường đất kiên cố có các lô cốt, ụ súng và hào giao thông nối liền các phân khu. Trong căn cứ địch chia thành từng khu vực có đường cơ động cho xe tăng, xe bọc thép và có cả sân bay, máy bay vận tải C130 có thể lên xuống được. Hệ thống thông tin liên lạc của căn cứ Đồng Dù là một trong những trung tâm viễn thông lớn và hiện đại ở miền Nam lúc bấy giờ. Lực lượng trong căn cứ có sở chỉ huy sư đoàn 25 (một trong những sư đoàn chủ lực mạnh nhất của quân ngụy Sài Gòn), trung đoàn bộ trung đoàn 50 và tiểu đoàn 2 của trung đoàn này; một trung tâm huấn luyện tân binh và hạ sĩ quan, các tiểu đoàn công binh, pháo binh, thiết giáp, thông tin, trinh sát, thám báo. Căn cứ pháo binh Đồng Dù có tới 18 khẩu pháo các loại, trong đó có 4 khẩu 175 ly "vua chiến trường", lực lượng xe tăng, thiết giáp có 20 xe. Quân số trong căn cứ có khoảng 3.000 tên.

Các lực lượng còn lại của sư đoàn 25 đóng ở ngoại vi gồm có tiểu đoàn 3 trung đoàn 50 ở Ấp Mới: tiểu đoàn 2 trung đoàn 46 ở Đồng Chùa, Suối Sâu: trung đoàn 49 ở Bến Kéo, Trà Võ (nam Tây Ninh); trung đoàn thiết giáp 10 có 1 chỉ đoàn ở Trảng Bàng, 1 chi đoàn ở Củ Chi. Ngoài ra lực lượng bảo vệ vòng ngoài căn cứ còn có tiểu đoàn 233 ở Phú Hòa Đông, tiểu doàn 331 ở Ấp Chợ, tiểu đoàn 305 ở Đồng Chùa, Củ Chi, tiểu doàn 320 ở Trung Hòa. Như vậy, hệ thống phòng thủ ở khu vực Củ Chi và căn cứ Đồng Dù là một hệ thống phòng thủ chặt chẽ, có hỏa lực mạnh, lực lượng đông, có các căn cứ phụ cận sản sàng chi viện và có dường cơ động thuận lợi.

Sư đoàn 320 sử dụng lực lượng tiến công tiêu diệt căn cứ Đồng Dù như sau: Trung đoàn 48 do anh Lê Quang Bình -Trung đoàn trưởng, Đinh Hữu Tấn - Chính ủy chỉ huy, được tăng cường 1 đại đội xe tăng và dược pháo binh sư đoàn và pháo binh chiến dịch chi viện đột phá trên hai hướng: hướng chủ yếu đánh từ tây bắc; hướng thứ yếu đánh từ tây nam vào. Trung đoàn 9 và 1 dại dội xe tăng làm dự bị đánh phát triển và đánh quân địch vòng ngoài.

2 giờ 30 phút ngày 29 tháng 4, Sư đoàn 320 triển khai xong lực lượng tiến công Đồng Dù. Các cụm pháo binh của quân đoàn gồm Trung đoàn 40, Trung đoàn 675 và cụm pháo binh Sư đoàn 320 bắt đầu bắn phá căn cứ Đồng Dù. Tiểu doàn 1 Trung đoàn 48 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Quang Vinh và Chính trị viên Nguyễn Văn Thư chỉ huy. Vinh và Thư là hai cán bộ trẻ, trưởng thành trong chiến đấu, có nhiều thành tích và kinh nghiệm chỉ huy đột phá trong những trận đánh quan trọng của sư doàn như trận Làng Siêu, Thuần Mẫn. Nhưng trước một căn cứ lớn, phòng thủ mạnh, yêu cầu chỉ được phép đánh thắng trong một thời gian ngắn, các anh không khỏi băn khoăn. Sau này Nguyễn Quang Vĩnh tâm sự:

- Trước khi bước vào trận đánh, cán bộ, chiến sĩ cả tiểu đoàn quyết tâm rất cao, mọi người đều sẵn sàng đón nhận hy sinh trước giờ thắng lợi. Nhưng là người chỉ huy tôi phải chịu trách nhiệm trước xương máu của họ. Do đó, Ban chỉ huy tiểu đoàn đã bàn đi bàn lại, phát huy dân chủ quân sự để anh em hiến kế dánh phải thắng, nhưng không phải thắng bằng mọi giá mà phải tính sao cho hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà tốn ít xương máu nhất.

Phương án lúc dầu, đơn vị sẽ dùng bộc phá đánh liên tục để phá rào. Đại đội 3, đơn vị đảm nhiệm mở cửa và đánh chiếm đầu cầu, được lệnh khẩn trương gói buộc bộc phá. Mặt khác. Tiểu đoàn 1 đề nghị trên cho phép dùng mìn định hướng mở cửa. Đề nghị của Tiểu đoàn 1 được Bộ Tư lệnh Sư doàn 320 chấp nhận.

 

Bộ Tư lệnh quân đoàn phân công anh Kim Tuấn - Phó Tư lệnh trực tiếp chỉ huy trận dánh. 17 giờ ngày 28 tháng 4 năm 1975, anh đã có mặt tại Sở chỉ huy Sư đoàn 320.

Theo hiệp đồng chung, Sư đoàn 320 chỉ được phép dứt điểm căn cứ Đồng Dù trong thời gian từ 5 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút. Như vậy, chỉ trong vòng 5 tiếng đồng hồ sư đoàn phải làm chủ một căn cứ rộng lớn, dịch phòng thủ kiên cố, đó là một nhiệm vụ hết sức nặng nề. Nhưng đó là thời điểm tốt nhất để Sư đoàn 10 vượt qua cửa mở này tiến vào nội đô.

Đúng 5 giờ 30 phút ngày 29 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn 320 nổ súng tiến công căn cứ Đồng Dù.

Ở hướng chủ yếu. Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 do Đại đội trưởng Trần Nhật Tăng và Chính trị viên Đào Xuân Sáng chỉ huy mở cửa. Đại đội 3 vừa mở được 2 lớp rào thì địch phát hiện hướng cửa mở, chúng bắn như đổ dạn vào đội hình quân ta. Bộ đội bị chặn lại không tiến lên được. Đại đội trưởng Trần Nhật Tăng tập trung hỏa lực yểm hộ cho phân đội mở cửa

Dưới sự chỉ huy của Trung đội trưởng Nguyễn Hữu Dóng. chiến sĩ ta người trước ngã người sau xông lên phá hết lớp rào này đến lớp rào khác cho đến khi khai thông cửa mở.

Cửa mở thông. Trung đội trưởng thọc sâu Vũ Văn Sơn dẫn đầu đánh chiếm lô cốt đầu cầu. Anh em vừa tiến lên thì bị chiếc xe tăng M.41 đặt ngầm trong tường đất dùng súng 12,8 ly bắn như vãi đạn, bộ binh ùn lại. Trước tình hình đó, Tiểu doàn trưởng Nguyễn Quang Vinh đã lên trực tiếp chỉ huy đột phá. Sau khi quan sát, Tiểu đoàn trưởng Vinh nói với anh em: Ta ở dưới sườn dốc bắn lên, đường đạn cao vì vậy không diệt được xe tăng địch. Hiểu được ý tiểu đoàn trưởng, nhìn đồng đội thương vong, Sơn bặm môi suy nghĩ giây lát rồi anh bò lên nhật một khẩu B.40 của một xạ thủ vừa bị thương. Kiểm tra lại súng đạn, Vũ Văn Sơn bật dậy đứng thẳng người siết cò. Quả đạn B.40 lao vút vào chiếc xe tăng địch. Một đụn khói đen bốc lên sau tiếng nổ dữ dội. Chớp thời cơ, Chính trị viên Sáng lệnh cho Đại đội 3 xung phong.

Trên hướng cửa mở thứ hai do Đại đội 1 phụ trách, tình hình cũng tương tự như hướng Đại đội 3. Đại đội trưởng Nguyễn Công Bạ phát hiện chiếc xe tăng M.41 nấp sau ụ đất lớn chĩa nòng pháo ra cửa mở trút đạn. Bạ dẫn Nguyễn Tiến Ngọ, chiến sĩ B.41 lên cùng với anh. Đại đội trưởng Nguyễn Công Bạ nổ tiểu liên thu hút sự chú ý của địch lại phía mình, Ngọ tranh thủ thời cơ giương súng nhằm chiếc xe tăng, ấn cò. Chiếc xe tăng bị tiêu diệt. Tuy vậy, tuyến công sự vòng ngoài của địch vẫn bắn mạnh. Một số chiến sĩ trung đội mở cửa bị thương vong. Tình hình trở nên phức tạp. Nguyễn Công Bạ lấy khẩu B.40 của một chiến sĩ bị thương rồi gọi bộc phá viên Lê Văn Sử cùng lên. Bạ dùng B.40 diệt ụ đại liên địch, chi viện cho Sử phá tung hàng rào cuối cùng, mở thông cửa mở. Đại đội 1 vượt qua cửa mở đánh chiếm tuyến công sự thứ nhất lúc 7 giờ 30 phút.

8 giờ, xe tăng trên hướng chủ yếu được lệnh tham gia đột phá. Đại đội 3 lọt được một bộ phận vào bên trong bờ tường đất. Nhưng xe tăng và bộ phận phía sau vừa tiến vào cửa mở thì bị dạn chống tăng của địch từ trong căn cứ bắn ra làm 3 chiếc xe tăng của ta bốc cháy cản đường. Trước tình hình đó, Trung đoàn trưởng Lê Quang Bình lệnh cho Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Nguyễn Hữu Hạ cho bộ đội vượt qua cửa mở đánh vào bên trong. Tiểu đoàn trưởng Hạ dẫn đầu đơn vị vượt qua lửa đạn dày đặc của dịch đánh vào căn cứ.

8 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 2 và Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 phát triển đến khu vực bãi xe của tiểu đoàn công binh địch. Lúc này Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 thương vong nhiều, sức chiến đấu giảm. Tiểu đoàn trường Tiểu đoàn 1 cho Đại đội 3 dừng lại củng cố vị trí đứng chân và tung nốt Đại đội 2 vào cùng Đại đội 1 phối hợp với Tiểu đoàn 2 chiến đấu. Trận đánh diễn ra mỗi lúc một thêm quyết liệt, Chính trị viên Tiểu đoàn 2 hy sinh. Trên hướng Tiểu đoàn 3 (hướng chủ yếu), bộ đội vẫn chưa vào được trong căn cứ. Chỉ huy Trung đoàn 48 lệnh cho tiểu đoàn theo cửa mở Tiểu đoàn 1 đánh vào.

Nguyễn Hữu Hạ nắm lại tình hình, rồi quyết định cho Đại đội 6 còn sung sức tiếp tục phát triển, đồng thời tung Đại đội 4, Đại đội 5 củng cố những khu vực Đại đội 3 và Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 chiếm được để mở đường cho xe tăng lên tham gia đột kích. Hướng Trung đoàn 9 do anh Nguyễn Văn Ấn -Trung đoàn trưởng, Nguyễn Văn Đác - Chính ủy vừa phải mở cửa đánh vào Đồng Dù vừa phải tổ chức đánh quân của sư đoàn 25 từ Tây Ninh kéo về.

Đứng trước một căn cứ rộng lớn, nhà san sát thật khó xác định đâu là sở chỉ huy địch, Nguyễn Hữu Hạ tìm một vị trí có lợi quan sát rồi chỉ thị cho Đại đội trưởng Đại đội 6 nhằm hướng có cột ăng-ten lớn cho bộ đội phát triển chiến đấu. Các chiến sĩ Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 và Đại đội 6 Tiểu đoàn 2 hiệp đồng chặt chẽ, phát triển tiến vào sở chỉ huy sư đoàn 25 ngụy.

 

Cùng thời điểm này, đội hình binh chủng hợp thành của Sư đoàn 10 theo đường số 1 tiến vào Sài Gòn. Nguyễn Hữu Hạ hô lớn: Sư đoàn 10 đã vượt qua rồi, anh em ta hãy xông lên! Bị đánh mạnh ngay trong căn cứ, nay lại thấy xuất hiện một lực lượng lớn xe tăng, pháo binh, xe bọc thép chở quân tiến vào Sài Gòn, cả quan lẫn lính sư đoàn 25 ngụy vô cùng khiếp đảm. Tranh thủ thời cơ, các chiến sĩ xe tăng theo sát bộ binh, dùng pháo và đại liên trên xe bắn áp đảo địch, chi viện cho bộ binh xung phong. Đúng 11 giờ, Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 và Đại đội 6 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 làm chủ sở chỉ huy sư đoàn 25 ngụy. Khi thấy bộ binh và xe tăng ta xuất hiện, Lý Tòng Bá và một số sĩ quan tùy tùng trốn ra rừng cao su, bị nhân dân và du kích huyện Củ Chi bắt sống.

Cùng thời gian Sư đoàn 320 đánh Đồng Dù, tại chi khu quân sự Trảng Bàng, Sư đoàn 316 sau những ngày thực hành bao vây ngăn chặn đã chuyển sang tiến công. Trước sức tiến công của các chiến sĩ Sư đoàn 316, bộ đội địa phương và dân quân du kích Tây Ninh, toàn bộ hai trung đoàn 46 và 49 liên doàn bảo an 251, một chiến đoàn thiết giáp địch nhanh chóng bị tiêu diệt, tan rã và bị bắt làm tù binh. Hệ thống phòng ngự của địch từ Đồng Dù đến Gò Dầu Hạ đã bị đập tan.

 

Sư đoàn 10 - lực lượng thọc sâu chiến dịch được tăng cường Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320), 31 chiếc xe tăng, 19 thiết giáp, Trung đoàn cao xạ 234 và 2 tiểu đoàn cao xạ (1 tiểu đoàn của Trung đoàn 232 và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 593), 5 khẩu pháo 155 ly có nhiệm vụ đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, bộ tổng tham mưu ngụy, quận 3, cùng đơn vị bạn sẵn sàng đánh chiếm dinh Độc Lập và biệt khu thủ đô khi được lệnh xuất kích.

Thực hiện nhiệm vụ trên, 3 giờ 30 phút ngày 29 tháng 4 năm 1975, Tiểu đoàn 20 (Trung đoàn 198) đánh chiếm cầu Bông. Địch cho lực lượng biệt kích dù phản kích hòng chiếm lại. Sư đoàn 10 lệnh cho Trung đoàn 64 đưa Đại đội 10 Tiểu đoàn 9 vào tiếp sức cho Tiểu đoàn đặc công 20. Sau 50 phút chiến đấu, Tiểu đoàn 20 và Đại đội 10 đã tiêu diệt và đánh bại lực lượng phản kích của tiểu đoàn dù 81, làm chủ cầu Bông.

Trên hướng cầu Sáng, vì đường xa, lại phải vòng tránh dịch nên Tiểu đoàn 2 Trung đoàn đặc công 198 vào tới vị trítriển khai thì trời đã sáng. Cuộc chiến đấu ở đây trở nên phức tạp hơn. Sư đoàn 10 phải sử dụng một lực lượng của Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 64) vào tham chiến. Sau 30 phút chiến đấu, đặc công và bộ binh ta làm chủ cầu Sáng. Cùng thời gian trên, Sư đoàn 10 lệnh cho lực lượng còn lại của Trung đoàn 64 tiêu diệt và làm tan rã tiểu đoàn biệt động quân 99 ở ấp Phố Mới.

5 giờ 30 phút ngày 29 tháng 4 năm 1975, Trung đoàn 24 (anh Vũ Văn Tài - Trung đoàn trưởng, anh Bùi Văn Hòe -Chính ủy), được lệnh xuất kích. Trung đoàn này chia làm 4 khôi. Khối thứ nhất gồm 106 cán bộ, chiến sĩ thuộc Đại đội 7 Tiểu đoàn 5, 16 trinh sát, 13 xe tăng, xe bọc thép và 2 xe Zin chở quân do Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 5 chỉ huy có nhiệm vụ đánh địch mở đường. Khối thứ hai gồm 525 cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 5 còn lại do Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Chuyển chỉ huy được tăng cường đại đội trinh sát, công binh, cao xạ, 8 xe tăng, xe thiết giáp, 3 khẩu pháo xe kéo, 1 xe chở đạn và 26 xe chở quân do các anh Vũ Văn Tài, Bùi Văn Hòe chỉ huy. Khối này có nhiệm vụ đột kích chiếm ngã tư Bảy Hiền, cổng số 5, trại Phi Long, bắt liên lạc với phái đoàn quân sự của ta ở trại Đa-vít. Khối thứ ba với 536 cán bộ, chiến sĩ gồm toàn bộ Tiểu đoàn 4 do anh Nguyễn Văn Hinh, Tiểu đoàn trưởng chỉ huy được tăng cường 8 xe tăng và xe bọc thép, 9 xe kéo pháo, 1 xe chở đạn, 20 xe tải và xe Jeep có nhiệm vụ đánh chiếm ngã ba Bà Quẹo, trại lính Hoàng Hoa Thám và bộ tư lệnh dù, bắt liên lạc với phái đoàn quân sự của ta ở trại Đa-vít, chiếm trại Phi Long, bộ chỉ huy hành quân hỗn hợp, bộ tư lệnh không quân ngụy. Khối thứ tư có 549 cán bộ, chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn 6, đại đội cao xạ, đại đội quân y, đại đội vận tải đi trên 28 xe vận tải làm nhiệm vụ dự bị của trung đoàn, sẵn sàng phát triển tiến công trên hướng Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5.

6 giờ 30 phút cùng ngày, Trung đoàn 28 (anh Nguyễn Đức Cẩm - Trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Ngọc Xuân - Chính ủy), chia thành hai khối. Khôi thứ nhất gồm Tiểu đoàn 3, được tăng cường 14 xe tăng và K63, 11 xe vận tải, 1 cối 82 ly, 1 ĐKZ 75 ly, 1 tiểu đội công binh và 1 tiểu đội trinh sát là lực lượng tiến công trên hướng chủ yếu: bộ tổng tham mưu ngụy. Khôi thứ hai gồm Tiểu đoàn 1, 13 xe vận tải, 1 ĐKZ 75 ly, 2 cối 82 ly có nhiệm vụ đánh chiếm sở chỉ huy sư đoàn không quân 5 và bộ tổng tham mưu ngụy. Tiểu đoàn 2 là lực lượng dự bị.

Theo lộ tiêu do công binh cắm sẵn trên hai trục dường 5 và 6, xe ủi dất đi trước húc tung các bờ ruộng, ụ đất mở đường cho xe tăng và xe chở quân đi theo. 347 xe các loại chở Sư đoàn 10. Trên các thùng xe, mui xe còn xanh tươi lá ngụy trang. Trước mỗi mui xe đều có cắm cờ Tổ quốc, cờ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đoàn xe đi theo đội hình hàng dọc nổi nhau băng qua cánh đồng Củ Chi nhằm theo hướng Sài Gòn xốc tới.

 

Theo kế hoạch, Trung đoàn 24 phải vòng tránh quận lỵ Củ Chi, song lực lượng địch ở đây đã tan vỡ nặng trên tuyến phòng thủ vòng ngoài, chỉ huy Sư đoàn 10 lệnh cho Trung đoàn 24 tiến thẳng theo đường số 1, thọc qua quận lỵ Củ Chi.

10 giờ 50 phút, phân đội phải đi trước của Trung đoàn 24 khi cách Củ Chi 4 ki-lô-mét gặp một lực lượng bộ binh và thiết giáp của địch ngăn chặn. Trung đoàn 24 kịp thời tổ chức chiến đấu diệt 4 xe tăng, xe thiết giáp và 1 trung đội địch. 11 giờ, đội hình Trung đoàn 24 thọc qua Củ Chi tiến về cầu Bông.

Cùng thời gian này, trên cánh đồng Tân Phú Trung một doàn xe tăng, xe bọc thép và xe ô tô của địch từ Hậu Nghĩa trên đường rút về Sài Gòn cũng tiến thẳng về cầu Bông. Các chiến sĩ Trung đoàn 64 và Trung đoàn đặc công 198 chốt giữ ở đây lúc đầu tưởng đó là lực lượng đột kích của Sư đoàn 10, nhưng khi nhìn kỹ trên xe không thấy có cờ và phát hiện lính ngụy đội mũ sắt, lập tức anh em nổ súng chặn đánh. Bị đánh bất ngờ, đoàn xe địch ùn lại. Giữa lúc đó, lực lượng binh chủng hợp thành của Trung đoàn 24 ập tới. Sau này những tên lái xe tăng ngụy bị bắt làm tù binh khai rằng: khi thấy xe tăng M.41, M.48 chúng tưởng là đồng bọn thua trận từ Tây Ninh chạy về. Ít phút sau thấy xe có lá ngụy trang lại cắm cờ cách mạng, chúng ngơ ngác chưa biết xử lý thế nào thì bị các chiến sĩ Đại đội xe tăng 9 xông tới nã đạn pháo, bắn súng 12,8 ly vào đoàn xe địch. Trong thế bị đánh cả phía trước lẫn phía sau, xe tăng, xe bọc thép địch hoảng loạn, chúng lao bừa xuống cánh đồng lúa phía nam cầu Bông. Từ trên đường số 1, Đại đội xe tăng 9 và bộ binh Trung đoàn 24 dùng hỏa lực nhằm từng chiếc xe địch nổ súng. Toàn bộ quân địch bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh. Trung đoàn 24 tiếp tục phát triển, khi đến thành Quan Năm thì bị quân địch ở đây ngăn chặn quyết liệt. Chỉ huy Trung đoàn 24 lệnh cho Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 (lực lượng đi đầu) xuống xe chia thành 2 mũi kết hợp với lực lượng xe tăng đột kích chính diện nhanh chóng làm chủ thành Quan Năm, toàn bộ quân dịch ở đây bị tiêu diệt và tan rã.

14 giờ 40 phút ngày 29, Trung đoàn 24 tiến đến trại huấn luyện Quang Trung. Tại đây, địch lợi dụng lô cốt, nhà tổng bố trí sẵn hỏa lực chặn đánh quân ta. Chỉ huy Trung đoàn 24 ra lệnh cho Tiểu đoàn 1 Trung đoàn phòng không 234 sửdụng Đại đội 1 và Đại đội 2 bắn máy bay, Đại đội 3 hạ nòng pháo 37 ly bắn vào các hỏa điểm địch. Trên đoạn đường này địch dựng nhiều vật cản: những vỏ phuy chứa đầy cát, những ụ đất lớn... Công binh trung đoàn phải dùng bộc phá giải quyết, có những ụ đất phải sử dụng tới 25 ki-lô-gam thuốc nổ mới khai thông được. Đồng thời trung đoàn để lại 1 đại đội bộ binh và 3 xe tăng phối hợp với Tiểu đoàn đặc công 115 đánh chiếm trại Quang Trung, còn đại quân tiếp tục phát triển. Địch cho pháo binh từ Tân Sơn Nhất bắn phá ác liệt chặn đường. Máy bay trực thăng vũ trang, máy bay phản lực gầm rú phóng rốc két, bắn đạn 20 ly. Các chiến sĩ Trung đoàn 234 vừa hành tiến vừa đánh trả quyết liệt máy bay địch, bắn rơi 1 máy bay trực thăng vũ trang.

17 giờ, đội hình thọc sâu binh chủng hợp thành Trung đoàn 24 vượt cầu Tham Lương. 18 giờ trung đoàn này tiến đến nhà máy dệt Vi-na-tếch-cô, giáp với đầu phía tây sân bay Tân Sơn Nhất.

Tại khu vực nhà máy dệt Vi-na-tếch cô, địch có 1 tiểu đoàn bảo an, 1 tiểu đoàn dù và 1 đại đội xe tăng. Chúng lợi dụng xưởng dệt, đồn bảo an và khu vực phía tây sân bay lập tuyến phòng ngự mới; đồng thời cho máy bay, pháo binh ném bom bắn phá dữ dội vào đội hình quân ta. Địch sử dụng cả đạn hóa học làm khối đi đầu của trung đoàn không tiến lên được. Chỉ huy Trung đoàn 24 cho bộ đội dừng lại triển khai đội hình chiến đấu; đồng thời điều 2 khẩu pháo 85, ba khẩu cối 82 lỵ và 3 xe tăng từ phía sau lên tập trung đột phá. Hai đại đội pháo phòng không của Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 234 cũng triển khai trận dịa đánh máy bay dịch ngay trên đường phố. Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 và xe tăng tiến công dồn bảo an, bắn cháy một kho đạn và chiếm giữ Nhà máy dệt Vi-na-tếch cô. Trước sức tiến công của ta, quân dịch tháo chạy về ngã ba Bà Quẹo. Tại ngã ba Bà Quẹo, địch tung lực lượng lính dù cùng xe tăng, thiết giáp ra ngăn chặn. Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra rất ác liệt. Từ 18 giờ đến 19 giờ 30 phút, địch 3 lần dùng xe tăng, xe bọc thép kết hợp với lính dù phản kích. Nhưng cả ba lần quân địch đều bị các chiến sĩ Trung đoàn 24 và Lữ đoàn xe tăng 273 đánh bại. Trong cuộc chiến đấu ở đây, 21 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 24 dã ngã xuống, 3 xe thiết giáp của Lữ đoàn 273 bị cháy. Trước ý chí chiến đấu ngoan cường của cán bộ, chiến sĩ ta, quân địch buộc phải lui về tuyến trong. Chỉ huy Trung đoàn 24 kịp thời điều Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 cùng 2 khẩu ĐKZ 75 ly áp sát ngã tư Bảy Hiền. Địch tiếp tục cho bộ binh và xe tăng ngăn chặn, lúc này lực lượng phía sau chưa lên hết nên Sư đoàn 10 lệnh cho Trung đoàn 24 dừng lại để củng cố chuẩn bị và sẽ tiến công vào lúc trăng lên.

Như vậy, đến 21 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975, Trung đoàn 24 là mũi thọc sâu vào Sài Gòn sớm nhất, vượt thời gian quy định.

 

Trên hướng đường 15, Trung đoàn 28 được lệnh xuất kích lúc 6 giờ, đến 8 giờ 20 phút bộ phận đi đầu của Trung đoàn đến cách tây nam Phú Hòa Đông 2 ki-lô-mét. Địch phát hiện lực lượng ta, chúng cho pháo từ Tân Quy bắn dồn dập vào đội hình trung đoàn. Quân địch trong đồn Phú Hòa Đông cũng dùng đại liên, súng cối bắn dữ dội vào khu vực Trung đoàn 28. Tuy vậy, bộ binh và xe tăng vẫn bình tĩnh chủ động hiệp đồng tiến công đồn bảo an Phú Hòa Đông. Sau 30 phút Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 làm chủ khu vực này rồi cả trung đoàn tiến về Tân Quy. 11 giờ 50 phút, dịch trong quận Phú Hòa, Tân Quy và sư đoàn 25 ngụy dùng bộ binh và xe tăng đánh vào đội hình trung đoàn. Chỉ huy Trung đoàn 28 sử dụng Đại đội 10 Tiểu đoàn 3 cùng 4 xe tăng và 4 xe K63 đánh thẳng vào đội hình quân địch làm cho chúng hoảng loạn tháo chạy về Phú Xương. Bộ binh và xe tăng ta truy kích diệt 5 xe M.113, 15 хе GMC và một số dịch, rồi theo đường 15 tiếp tục phát triển. Khi vượt qua cầu Sáng, các chiến sĩ lái xe tăng mải chiến dấu, không chú ý đến sức tải của chiếc cầu sắt này đã cho xe chạy gần nhau với tốc độ cao tạo ra lực cộng hưởng lớn nên khi chiếc xe tăng thứ ba vượt được ba phần tư cầu, thì cầu sập, chiếc xe tăng tụt xuống sông. Trung đoàn 28 phải quay trở lại Tân Quy theo tỉnh lộ 8 qua Đồng Dù tiến sang cầu Bông, phát triển chiếm khu tây nam trại Quang Trung. 18 giờ 30 phút, Trung đoàn 28 tiến đến cầu Tham Lương ngã tư Quang Trung thì được lệnh dừng lại triển khai chiến đấu.

Sau một ngày tiến công, Quân đoàn 3 đã đập tan tuyến phòng thủ mạnh nhất của địch ở hướng tây bắc Sài Gòn với chiều dài 40 ki-lô-mét.

Đường vào Sài Gòn đã mở!

Cùng thời gian này, trên cả năm hướng tiến công quân ta đều phát triển thuận lợi. Cánh quân phía bắc, Quân đoàn 1 dang tiến công căn cứ Phú Lợi, lực lượng đi đầu của quân đoàn đã đến bắc Lái Thiêu. Cánh quân hướng tây và tây nam, Đoàn 232 làm chủ thị xã Hậu Nghĩa, quận lỵ Đức Hòa, bức rút địch ở Đức Huệ, đánh chiếm ngã ba Vĩnh Lộc và Hưng Long. Cánh quân đông nam, Quân đoàn 2 đánh chiếm và làm chủ Vũng Tàu, Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ và phát triển về Cát Lái, cầu xa lộ Đồng Nai, Thủ Đức. Thành ủy Sài Gòn đã đưa 1.700 cán bộ, các đội biệt động vào nội thành và các xã vùng ven hoạt động diệt bọn ác ôn đấu sở, đánh chiếm đồn bốt địch, mở bàn đạp tạo thuận lợi cho bộ đội chủ lực đánh vào thành phố; đồng thời chận đánh tàn quân địch ở bên ngoài chạy về Sài Gòn và phát động quần chúng sẵn sàng nổi dậy giành quyền làm chủ.

 

5 giờ 25 phút ngày 30 tháng 4, anh Vũ Lăng và anh Đặng Vũ Hiệp cùng một bộ phận cán bộ chủ chốt cơ quan quân đoàn trong đó có tôi (Trưởng phòng Tác chiến) (tất cả gồm hơn mười người) đã có mặt tại Sở chỉ huy Sư đoàn 10 ở phía nam Hóc Môn để tiện theo dõi và chỉ đạo sư đoàn này đột kích.

7 giờ 15 phút, từ Sở chỉ huy Sư đoàn 10, anh Vũ Lăng ra lệnh tiến công. Toàn bộ các trận địa pháo của Quân đoàn và Sư đoàn 10 đồng loạt nã đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất, bộ tổng tham mưu ngụy, làm một số máy bay, kho bom, dạn địch nổ tung, bốc cháy. Các mục tiêu: bộ tư lệnh dù, bộ tư lệnh không quân, bộ tư lệnh thiết giáp ngụy ở sân bay chìm trong khói lửa. Giữa lúc quân địch đang hoang mang dao động trước hỏa lực pháo binh ta, Trung đoàn 24 và xe tăng đột phá đánh chiếm ngã tư Bảy Hiền. Tại đây, ngay trong đêm 29 tháng 4 địch đã đưa tiểu đoàn dù 8 cùng lực lượng của biệt khu thủ đô và một chi đội xe tăng M.41, M.48 ra chốt chặn. Địch lợi dụng sân thượng, tháp nước, những ô cửa sổ nhà cao tầng bố trí hỏa lực dày đặc để ngăn chặn ta tiến công. Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 cùng 11 xe tăng, xe thiết giáp (Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn 273) dũng cảm đột phá mở đường. Đại đội trưởng Đại đội 7 Trịnh Bá Tư cho Trung đội 1 có chiến sĩ biệt động thành Nguyễn Thị Trung Kiên dẫn đường mở một mũi lên hướng bệnh viện "Vì dân" thọc sâu vào sườn địch. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, cán bộ, chiến sĩ ta giành giật với địch từng căn nhà, ngõ phố. Trong một lần chỉ huy đột phá, Trịnh Bá Tư anh dũng hy sinh. Tấm gương chiến đấu hy sinh của Đại đội trưởng Trịnh Bá Tư đã thôi thúc cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 5 vượt qua ác liệt để giành thắng lợi cuối cùng. Chiến sĩ B.40 Vũ Văn Chung vọt lên, dùng B.40 bắn cháy chiếc xe tăng M.41 của địch. Nguyễn Xuân Trường, Đại đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn xe tăng 273 chỉ huy đơn vị táo bạo mở mũi đột kích mạnh chi viện cho bộ binh đánh thẳng vào quân địch phản kích. Xe tăng 985 vừa vượt lên thì bị xe tăng địch phục sẵn bắn hỏng pháo. Không chần chừ, trưởng xe Mai Trọng Hoạt ra lệnh tiếp tục tiến lên. Bằng một động tác thuần thục và quyết liệt, chiến sĩ lái xe trẻ Phùng Văn Tính (21 tuổi) cho xe của mình lao thẳng vào xe tăng địch. Chiếc xe tăng M.48 của địch hoảng sợ chồm lên vỉa hè, bọn địch trong xe khiếp sợ đầu hàng. 8 giờ 5 phút, 1 chiếc L19 vừa hạ độ cao để xuống sân bay Tân Sơn Nhất, các chiến sĩ Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 234 bắn chính xác, chiếc máy bay địch bùng cháy và lao xuống hè phố Lê Thánh Tông. Đây là chiếc máy bay cuối cùng của địch bị Quân đoàn 3 bắn rơi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

 

8 giờ 45 phút, Trung đoàn 24 và Trung đoàn xe tăng 273 làm chủ ngã tư Bảy Hiền. Thừa thắng, quân ta phát triển về cổng số 5 sân bay Tân Sơn Nhất.

Cũng vào thời điểm này, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 nhận được bức điện của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương gửi tới mặt trận, bức điện có đoạn như sau: "Nhiệt liệt khen ngợi toàn thể các đơn vị đã lập được chiến công lớn trong những ngày qua, đập tan tập đoàn phòng ngự và các cứ điểm phòng ngự phía đông bắc và tây bắc, cắt đứt lộ 4, tiến công các sân bay lớn của địch, hoạt động tốt ở vùng ven đô và nội đô. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên với quyết tâm lớn nhất, hãy nhanh chóng đánh thẳng vào sào huyệt cuối cùng của địch với khí thế hùng mạnh nhất, của đội quân trăm trận trăm thắng, đập tan mọi sự đề kháng của địch, kết hợp tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn - Gia Định. Phải giữ kỷ luật thật nghiêm, triệt để chấp hành mọi chỉ thị, mệnh lệnh, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, nêu cao truyền thống và bản chất cách mạng của quân đội ta, hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, giành thắng lợi hoàn toàn cho chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại".

 

Tinh thần bức điện trên, cơ quan chính trị quân đoàn đã kịp thời phổ biến đến từng đơn vị, từng chiến sĩ.

9 giờ 5 phút, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn xe tăng 273 tiến đến cổng số 5 sân bay Tân Sơn Nhất. Tại đây, dịch bố trí hỏa lực mạnh, có cả hỏa tiễn chống tăng X202 đặt trên xe di động và trên tháp nước. Đại đội 7, mũi đột phá đầu tiên của Tiểu đoàn 5 bị chặn lại. Tiểu đoàn 5 nhiều lần đột phá nhưng vẫn không thành. Hai chiếc xe tăng T54 và 1 chiếc K63 của ta bị cháy nằm cản giữa đường. Trước tình hình đó, Trung đoàn phó Tô Quốc Trịnh, Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Chuyển và Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn xe tăng 1 Chu Khánh Tồn lên nắm lại tình hình và tổ chức đột phá tiếp. Chỉ huy trung đoàn điều thêm 4 xe tăng của Đại đội 2 và 2 khẩu pháo 85 ly lên chi viện cho Đại đội 5 Tiểu đoàn 5 đột phá.

Khi xe kéo pháo 85 ly của ta vừa tiến vào vị trí triển khai thì bị địch bắn trúng làm cháy xe, đạn nổ, súng hỏng, pháo thủ thương vong. Lê Xuân Chuyển và Chu Khánh Tồn chỉ huy cụm hỏa lực ĐKZ 75, cối 82 ly, 12,7 ly và hỏa lực xe tăng chi viện có hiệu quả cho Tiểu đoàn 5 đột phá đánh chiếm khu vực đầu cầu.

Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra hết sức quyết liệt, nhiều gương chiến dấu vô cùng quả cảm. Ba chiếc xe tăng của ta bị địch bắn hỏng, nhưng các chiến sĩ lái xe và pháo thủ vẫn bám xe, sử dụng súng 12,7 ly và dại liên trên xe đánh dịch chi viện cho bộ binh. Pháo thủ xe tăng Nguyễn Trần Đoàn bị thương dập nát cánh tay vẫn không rời vị trí. Đoàn nhờ anh em cắt cánh tay bị thương cho khỏi vướng để tiếp tục chiến đấu. Chính trị viên Đại đội 5 Tiểu đoàn 5 Đỗ Trọng Lợi, khi đại đội trưởng bị thương đã trực tiếp chỉ huy đơn vị đột phá đánh chiếm khu truyền tin, bộ tư lệnh sư đoàn 5 không quân, chia cắt địch ở sân bay Tân Sơn Nhất với bộ tổng tham mưu ngụy. Đến 10 giờ 30 phút, Đại đội 5 bắt được 57 tù binh trong đó có 3 đại tá: Lê Hữu Tiền, chỉ huy trưởng khu truyền tin; Trần Quang Thái, sĩ quan tâm lý chiến và Nguyễn Duy Phụng, sư phó sư đoàn 5 không quân. Đại đội 6 lợi dụng kết quả của đơn vị bạn đánh chiếm khu cố vấn, khu ra-đa và sư đoàn bộ sư đoàn 5 không quân.

Cùng lúc, Tiểu đoàn 5 đánh địch từ ngã tư Bảy Hiền vào cổng số 5 sân bay Tân Sơn Nhất thì chỉ huy Trung đoàn 24 cũng ra lệnh cho Tiểu đoàn 4 theo cổng số 4 sân bay đánh vào. 9 giờ, Đại đội 2 Tiểu đoàn 4 đột phá đánh chiếm bộ tư lệnh dù. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 Vũ Văn Tài có mặt kịp thời, thấy thời cơ thuận lợi đã lệnh cho Tiểu đoàn 6 theo cửa mở Tiểu đoàn 4 đánh chiếm bộ tư lệnh không quân và bắt liên lạc với phái đoàn quân sự của ta ở trại Đa-vít.

Đại đội 9 chia làm 3 mũi phát triển tới trại Đa-vít, nơi đặt trụ sở phái đoàn quân sự của ta. Anh em kể lại: Cuộc gặp gỡ giữa các chiến sĩ Đại đội 9 với các đồng chí trong phái đoàn quân sự diễn ra hết sức cảm động. Anh Hoàng Anh Tuấn và các anh trong đoàn siết chặt tay và ôm hôn từng chiến sĩ Đại đội 9 Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 24. Những nụ cười và cả những giọt nước mặt vui mừng lăn nhanh trên má mọi người... Đại dội 9 được lệnh ở lại bảo vệ phái đoàn quân sự của ta. Các lực lượng còn lại tiếp tục phát triển đánh chiếm bộ tư lệnh không quân ngụy. 10 giờ 35 phút, Đại đội 10 và Đại đội 11 Tiểu đoàn 6 tiến vào bộ tư lệnh không quân ngụy. Giữa sân, trước ngôi nhà chính, một con đại bàng đúc bằng đồng sải cánh dài 2 mét, biểu tượng sức mạnh "không lực Việt Nam cộng hòa" bị trúng đạn pháo của ta, đầu gãy gục, thảm hại.

11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, Đại đội 11 Tiểu đoàn 6 kéo lá cờ Quyết thắng truyền thống của quân đội ta lên đỉnh cột cờ bộ tư lệnh không quân ngụy.

 

Tuy vậy, cuộc chiến đấu ở trong sân bay Tân Sơn Nhất của Trung đoàn 24 còn kéo dài đến 14 giờ mới hoàn toàn im tiếng súng.

Trên hướng Trung đoàn 28, vào lúc 3 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 28 và 4 xe tăng T54 của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 273 đi vòng lên phía bắc trại Quang Trung nhưng đến đây gặp địch. Ta và địch chạm súng, địch sử dụng súng chống tăng B90 bắn cháy 2 chiếc T54 của ta. Do vậy, cánh quân này phải quay lại theo đường Trung đoàn 24 đánh vào nội đô.

9 giờ 30 phút, Trung đoàn 28 đến Lăng Cha Cả, dự kiến sẽ theo đường Võ Tánh đánh vào bộ tổng tham mưu ngụy. Nhưng đường Võ Tánh nhiều xe bị cháy làm tắc nghẽn. Sư đoàn phó Võ Khắc Phụng và Trung đoàn phó Đỗ Công Mùi cho đội hình vừa tiến vừa đánh địch theo đường Trương Minh Ký qua nhà thờ Tân Sa Châu rẽ sang đường Thoại Ngọc Hầu rồi sang đường Võ Tánh.


10 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4, Tiểu đoàn 3 cùng lực lượng xe tăng của Tiểu đoàn 2 Lữ đoàn 273 và các đơn vị công binh, trinh sát, cao xạ do Tham mưu phó trung đoàn Lê Ngọc Tùng chỉ huy đột phá vào cổng chính bộ tổng tham mưu ngụy. Địch dùng xe tăng và bộ binh chặn giữ cổng chính đồng thời cho một mũi từ phía nam đánh lên. Một chiếc xe bọc thép M.113 liều mạng xông ra đã bị xe tăng 815 do Đại đội phó Đỗ Hồng Kỳ chỉ huy bắn cháy. Một chiếc xe GMC gắn đại liên 4 nòng di sau chưa kịp nổ súng đã hốt hoảng quay đầu tháo chạy bị xe tăng 815 đuổi theo bắn 1 quả đạn pháo 100 ly. Chiếc xe tăng địch bốc cháy. Một đại đội địch khiếp sợ hạ vũ khí đầu hàng. Thừa thắng, Trung đoàn 28 chia làm 2 mũi. Mũi thứ nhất gồm 1 xe tăng, 1 xe K63 và 1 trung đội thuộc Đại đội 10 Tiểu đoàn 3 đánh vào phía đông nam bộ tổng tham mưu ngụy. Mũi thứ hai gồm có 3 xe tăng T54, năm xe K63 và lực lượng của Tiểu đoàn 3 còn lại từ cổng chính đánh thẳng vào trung tâm.

Vượt qua cổng chính, xe tăng 982 do Chính trị viên Nguyễn Hữu Thìn chỉ huy tiến thẳng đến thềm cao tòa nhà chính của tổng hành dinh quân ngụy. Trung đội phó Trần Lựu dùng AK yểm hộ cho Tiểu đội trưởng Nguyễn Duy Tân nhanh chóng chạy lên sân thượng tổng hành dinh giật lá cờ "ba que", thay vào đó là lá cờ nửa đỏ nửa xanh giữa có ngôi sao vàng năm cánh. Lá cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tung bay nơi cao nhất chính giữa tòa nhà tổng hành dinh quân ngụy Sài Gòn. Một lúc sau, các chiến sĩ Trung đoàn 48 có mặt cũng kéo một lá cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở phía bên phải lá cờ Trung đoàn 28 đã kéo lên.

 

Lúc đó là 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Dưới sự chỉ huy của Chính ủy trung đoàn Nguyễn Ngọc Xuân và Chính trị viên Tiểu đoàn 3 Nguyễn Văn Quý, chiến sĩ ta tiến vào kiểm soát các phòng làm việc của tòa nhà bộ tổng tham mưu ngụy, thu dọn toàn bộ con dấu, cờ hiệu và nhiều tài liệu quan trọng khác.

Cùng thời gian này, các chiến sĩ Sư đoàn 320B đánh chiếm trận địa pháo và sân bay lên thẳng của địch gần cổng số 2, chiếm khu thông tin, phòng nhất, phòng nhì, tổng cục tiếp vận và tiến vào trung tâm phối hợp với Trung đoàn 28 chiếm lĩnh, bảo vệ tòa nhà chính bộ tổng tham mưu quân ngụy.


Trong lúc Trung đoàn 28 đang đánh địch ở cổng chính bộ tổng tham mưu ngụy thì Sư đoàn 10 lệnh cho Trung đoàn 66 do anh Nguyễn Đình Kiệp - Trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Chí Nguyện - Chính ủy chỉ huy theo hướng phát triển của Trung đoàn 28 tiến vào bộ tổng tham mưu quân ngụy Sài Gòn. Các chiến sĩ Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8 đã có mặt kịp thời cùng đơn vị bạn tỏa ra chiếm lĩnh những nơi làm việc của bộ máy điều hành chiến tranh do Mỹ nặn ra.

 

Trung đoàn 64 (anh Trần Văn Thân - Trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Văn Đác - Chính ủy) do anh Phí Triệu Hàm -Phó Chính ủy quân đoàn chỉ huy cơ động theo đường Lê Văn Duyệt đến dinh Độc Lập. Nhưng trung đoàn đến nơi, đơn vị bạn đã chiếm xong dinh tổng thống ngụy quyền. Dương Văn Minh và nội các của ông ta đã tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Một sự trùng hợp thú vị là gần như vào một thời điểm (trưa ngày 30 tháng 4) lá cờ chiến thắng của đại quân ta đã đồng thời được kéo lên ở ba mục tiêu then chốt trong thành phố Sài Gòn là dinh Độc Lập, bộ tổng tham mưu ngụy và sân bay Tân Sơn Nhất.

Ban chỉ huy Trung đoàn 64 cho 1 đại đội đánh chiếm khu cư xá sĩ quan Mỹ. Quá trình phát triển chiến đấu ở đây Trung đoàn 64 có 4 chiến sĩ đã anh dũng ngã xuống, 12 chiến sĩ khác bị thương. Vào những giây phút cuối cùng của trận chiến, những giọt máu đào của cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 vẫn đổ xuống Sài Gòn, góp phần cho chiến dịch Hồ Chí Minh giành toàn thắng.


Chiến dịch Hồ Chí Minh - trận quyết chiến cuối cùng đại thắng. Thành phố Sài Gòn - thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu hoàn toàn giải phóng.

 

Nhân dân Sài Gòn xuống đường hò reo đón chào bộ đội giải phóng. Cờ đỏ sao vàng, cờ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam bay rợp các đường phố. Bà con cô bác, nam nữ thanh niên, các cháu thiếu nhi vây quanh các anh bộ đội, vây quanh những chiếc xe tăng, những khẩu pháo còn vương bụi khói chiến trường. Trên khuôn mặt ai nấy đều hân hoan rạng rỡ. Cả Sài Gòn, cả Việt Nam lúc ấy sống trong niềm vui vô tận. Đó là niềm vui giải phóng của cả dân tộc Việt Nam mong đợi suốt 21 năm, đúng hơn là ngót 30 năm kể từ ngày Nam Bộ kháng chiến. Trong giờ phút hào hùng của lịch sử, mọi người chúng tôi đều xúc động nhớ tới Bác Hồ. Bác Hồ ơi! Vâng theo Di chúc của Người, chúng con đã thực hiện trọn vẹn điều Bác hằng mong "Đánh cho Mỹ cút" và hôm nay chúng con đã "Đánh cho ngụy nhào", non sông thu về một mối, Nam - Bắc sum họp một nhà!

Bình luận


© 2023 bởi Nhà Lưu Niệm. Được dùng và bảo mật bởi Wix

bottom of page