Hồi ký "Ký ức Đời binh nghiệp". Chương 9 - TRÊN TỪNG CƯƠNG VỊ CÔNG TÁC MỚI
- 20 thg 2
- 66 phút đọc
Đã cập nhật: 5 thg 4

SAU những đợt truy quét lớn của Quân đoàn 3 có sự S phối hợp của lực lượng vũ trang Cam-pu-chia, những cụm quân lớn cuối cùng của tàn quân Pôn-pốt ở tây nam Cam-pu-chia đã cơ bản bị quét sạch. Trước tình hình đó và yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên biên giới phía Bắc, quân tình nguyện Việt Nam tổ chức rút một phần lớn lực lượng về nước. Sau khi hoàn thành cơ động Quân đoàn về nước, ngày 3 tháng 5 năm 1979, Bộ Quốc phòng ra lệnh cho Quân đoàn 3: "Trong tháng 6 phải hoàn thành nhiệm vụ truy quét địch ở địa bàn tỉnh Pua Sát và tiến hành cơ động ra phía Bắc làm lực lượng cơ động của Bộ".
Tiếp đó, ngày 28 tháng 6, Tổng Tham mưu trưởng ra mệnh lệnh: "Điều động toàn bộ Quân đoàn 3 từ vị trí đang hoạt động nay ra khu vực tỉnh Thái Nguyên với đầy đủ vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện vận tải và thông tin liên lạc để đến địa điểm mới sẵn sàng chiến đấu được ngay". Thời gian hành quân được ấn định từ ngày 5 đến ngày 31 tháng 7 năm 1979, phương tiện cơ động bằng ô tô, tàu hỏa, tàu thủy. Riêng Sư đoàn 320 và một bộ phận Quân đoàn bộ đi đường không từ sân bay Pô Chen Tông (Phnôm Pênh) đến sân bay Nội Bài (Hà Nội).
Để giúp đỡ Quân đoàn cơ động bằng đường không, Bộ Tổng tham mưu cử một đoàn cán bộ đến sân bay Pô Chen Tông trực tiếp chỉ đạo hành quân.
Lúc này, tôi bàn giao chức vụ Sư đoàn trưởng cho anh Khiếu Anh Lân về Quân đoàn đảm nhiệm chức Tham mưu trưởng. Với kinh nghiệm làm công tác tham mưu trong nhiều năm, nhất là kế hoạch cơ động lực lượng trong chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh, cơ quan tham mưu Quân đoàn chúng tôi đã làm kế hoạch vận trù học một cách khoa học, sát thực tế để mọi lực lượng, mọi khối đều vận hành nhịp nhàng, không chồng chéo, không đứt quãng với lực lượng 3 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn pháo binh, 1 lữ đoàn cao xạ, 1 lữ đoàn xe tăng với gần 100 chiếc, các cơ quan Quân đoàn bộ, các phân đội hậu cần trực thuộc. Với cự ly cuộc hành quân dài khoảng 3.000 ki-lô-mét.
Cơ quan tham mưu chúng tôi phải làm kế hoạch không kể ngày đêm, sau 1 tuần tôi báo cáo Tư lệnh Nguyễn Quốc Thước, anh rất hài lòng về kế hoạch chúng tôi trình. Cụ thể: Cơ động bằng đường không, do đơn vị vận tải AN2 Liên Xô đảm nhiệm từ sân bay Pô Chen Tông đến sân bay Nội Bài gồm cơ quan Quân đoàn bộ, Sư đoàn 320, lữ đoàn pháo binh, lữ đoàn cao xạ. Cơ động bằng ô tô và xe lửa Sư đoàn 10, Sư đoàn 31, Lữ đoàn 7 công binh, Trung đoàn 29 thông tin... tập kết ở ga Trảng Bom (Đồng Nai). Còn lại các binh chủng nặng, pháo lớn và xe tăng một bộ phận đi bằng tàu hỏa, một bộ phận đi bằng tàu thủy từ cảng Cát Lái cập bến cảng Hải Phòng. Với một nguyên tắc là ra đến Thái Nguyên từng sư đoàn đã tương đối đồng bộ với các binh chủng kỹ thuật, nếu có nhiệm vụ là có thể bước vào chiến đấu được ngay.
Kế hoạch cơ động cả quân đoàn được Bộ phê chuẩn. Cuộc hành quân cơ động bắt đầu đúng ngày quy định và đã thành công tốt đẹp, an toàn.
Ngày 11 tháng 12 năm 1979, anh Phạm Sinh - Chính ủy quân đoàn được trên điều về làm Tư lệnh Binh đoàn 32 (bảo vệ), anh Hà Quốc Toản được bổ nhiệm Chính ủy quân đoàn. Tôi được bổ nhiệm Phó Tư lệnh quân đoàn.
Việc đầu tiên khi đặt chân lên đất Thái Nguyên phải nhanh chóng đưa quân đoàn vào ổn định nơi ăn, chỗ ở cho hơn 3 vạn con người và một khối lượng khổng lồ trang bị kỹ thuật, hậu cần. Trừ cơ quan Quân đoàn bộ và Bệnh viện 211 tận dụng một số cơ sở doanh trại cũ của đơn vị bạn, còn tất cả chặt tre, đốn gỗ để tự xây dựng doanh trại. Với kinh nghiệm công tác dân vận, các đơn vị trong quân đoàn đã vận động nhân dân, các hợp tác xã ủng hộ tre, gỗ, lá cọ, nhiều nơi còn cử hàng trăm lao động đến giúp đơn vị xây dựng doanh trại. Cuối cùng mọi việc đều ổn thỏa.
Trong khi bộ đội tập trung ổn định doanh trại, cán bộ từ quân đoàn, sư đoàn, trung đoàn và tiểu đoàn đi nghiên cứu chuẩn bị chiến trường và lập phương án tác chiến. Kinh nghiệm thì đã có, nhưng làm thế nào thích ứng được với đối tượng tác chiến mới, đòi hỏi cơ quan tham mưu chúng tôi phải suy nghĩ, không thể chủ quan và rập khuôn. Sau gần một tháng chuẩn bị, cuối cùng các đơn vị trong quân đoàn đã lập được phương án tác chiến mà theo chúng tôi là khả thi.
Chỗ ở đã ổn định, chúng tôi đề xuất với anh Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh, anh Hà Quốc Toản - Chính ủy phải nhanh chóng đưa bộ đội vào nền nếp: sinh hoạt chính trị, quán triệt nhiệm vụ, động viên tinh thần sẵn sàng chiến đấu, phát động thi đua, thúc đẩy mọi hoạt động huấn luyện diễn tập, kết hợp với tăng gia sản xuất bảo đảm kỹ thuật và luôn coi trọng công tác dân vận đối với đồng bào khu vực đóng quân.
Một việc không kém phần quan trọng là thu xếp cho anh em cán bộ, chiến sĩ lâu năm lần lượt thay nhau nghỉ phép về thăm gia đình với yêu cầu vẫn phải bảo đảm quân số và lực lượng đồng bộ sẵn sàng chiến đấu. Chúng tôi quy định dưới nghỉ phép trước, trên nghỉ phép sau, ưu tiên những đồng chícó hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn.
Vấn đề giải quyết phương tiện cho anh em, do phương tiện giao thông công cộng rất thiếu thốn chúng tôi chỉ đạo cho các đơn vị dùng xe ô tô vận tải chở bộ đội về từng tỉnh và hẹn ngày đón. Được sự quan tâm cả vấn đề chung cũng như vấn để riêng, anh em phấn khởi tập trung cho nhiệm vụ.
Ngày 1 tháng 1 năm 1980, Quân đoàn tổ chức trọng thể lễ đón nhận danh hiệu Đơn vị Anh hùng và Huân chương Hồ Chí Minh. Cùng thời gian này, Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Sư đoàn 31, Lữ đoàn xe tăng 273, Trung đoàn 7 công binh... cũng lần lượt tổ chức đón nhận danh hiệu Anh hùng. Một không khí hân hoan tràn ngập toàn quân đoàn.
Để chuẩn bị chiến trường theo hướng A1, A2, Quân đoàn đã huy động một lực lượng lớn nhân lực, vật lực gồm 67.884 ngày công, 5.843 giờ máy húc, 10 nghìn lít xăng dầu, hàng chục tấn thuốc nổ, mở mới và sửa chữa nâng cấp 7 tuyến dường với tổng chiều dài 285 ki-lô-mét. Nổi bật là thi công mở rộng tuyến đường CĐ 30 từ Phố Chợ, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đến Kéo Thiểng, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn dài 47 ki-lô-mét, rộng từ 4-6 mét, hoàn thành trước 2 ngày so với quy định của Bộ Tổng tham mưu, được Bộ Tổng tham mưu khen ngợi. Những tuyến đường do cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 mở vươn dài trên các triền núi, vượt qua sông sâu, vực cao không chỉ phục vụ kịp thời cơ động lực lượng trong các cuộc diễn tập lớn của Bộ và bảo đảm quốc phòng -an ninh lâu dài trên địa bàn mà còn góp phần mở mang giao thông, phát triển kinh tế xã hội cho đồng bào ở một vùng chiến lược rộng lớn phía Bắc - Đông Bắc Tổ quốc. Chúng tôi thường xuyên duy trì các chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực chiến. Hàng ngày cấp sư đoàn có 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội phòng không, 1 đại đội công binh, 1 đại đội thông tin, 1 đại đội pháo binh sẵn sàng cơ động làm nhiệm vụ chiến đấu. Lữ đoàn xe tăng 273 có 1 đại đội xe tăng, thiết giáp hỗn hợp trực chiến. Trung đoàn pháo binh 40, Trung đoàn phòng không 234. Trung đoàn 7 công binh luôn duy trì các đại đội trực chiến đúng quy định. Việc huấn luyện bộ đội hành quân xa, mang vác nặng, báo động chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu lên tăng cường và lên cao được tổ chức chặt chẽ.
Giữa năm 1982, anh Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh quân đoàn được trên cử đi học bổ túc tại Học viện Vô-rô-si-lốp. Bộ Quốc phòng Liên Xô. Anh Bùi Đình Hòe được cử quyền Tư lệnh, tôi được bổ nhiệm giữ chức Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng. Ngày 20 tháng 12 năm 1983, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng ký quyết định điều anh Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh quân đoàn về làm Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu 4, tôi được bổ nhiệm thay anh Thước giữ chức Tư lệnh quân đoàn. Cùng thời gian này, anh Bùi Đình Hòe được điều về Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô, anh Phạm Duy Tân - Phó Tư lệnh Quân đoàn 1 được bổ nhiệm Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân đoàn 3, anh Hà Quốc Toản - Phó Tư lệnh chính trị.
Để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới, Bộ Tư lệnh quân đoàn chúng tôi phải bố trí lại vị trí đóng quân của một số đơn vị trong quân đoàn. Sư đoàn bộ binh 320 được chuyển thành sư đoàn bộ binh cơ giới nên chuyển từ huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên về xã Ngoại Trạch, Trung Mẫu, Tam Đảo, Vĩnh Phúc và xã Ngọc Thanh, Mê Linh, Hà Nội. Trung đoàn pháo binh 40 từ La Quang, La Hiên về Gò Đầm. Trung đoàn công binh 7 từ Tràng Xá chuyển về vị trí Trung đoàn 40 ở La Quang. Sư đoàn 31 chuyển gọn vị trí đóng quân về Võ Nhai. Trung đoàn 234 từ huyện Phú Lương chuyển về huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Việc chuyển vị trí đóng quân của một số đơn vị tuy có làm cho cán bộ, chiến sĩ vất vả, vật lộn với nắng mưa gió rét để tạo dựng một cơ ngơi mới nhưng thuận tiện cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu của đơn vị. Thực hiện biểu biên chế mới, đơn vị cơ bản vẫn được giữ nguyên, nhưng có đơn vị như Sư đoàn 31 chỉ đạt 60% quân số so với yêu cầu quy định, trong đó, Trung đoàn 922 rút gọn thành khung huấn luyện chiến sĩ mới và quân dự nhiệm.
Một trong những thành công nổi bật trong công tác huấn luyện chiến đấu của Quân đoàn 3 là việc tổ chức thành công nhiều cuộc diễn tập với nhiều hình thức tác chiến và quy mô khác nhau. Nổi bật là các cuộc diễn tập lớn: phản đột kích quy mô quân đoàn; phản công cấp quân đoàn; chiến đấu trong đội hình phòng ngự chiến lược và vận động chiến dịch phòng ngự vội vã, phát triển tiến công và chuyển vào phòng ngự; tiến công địch trên điểm cao có công sự vững chắc ở địa hình rừng núi... do Bộ Quốc phòng trực tiếp chỉ đạo và cố vấn Liên Xô theo dõi. Qua diễn tập, Quân đoàn được Bộ Quốc phòng đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trình độ công tác huấn luyện tốt, thể hiện là một binh đoàn dày dạn kinh nghiệm chiến đấu.
Sau Đại hội V của Đảng, ta chậm cụ thể hóa đường lối kinh tế trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, thêm vào đó là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ hành động đơn giản, nóng vội trong quản lý kinh tế - xã hội. Nhất là cuộc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền càng làm cho nền kinh tế đã khó khăn càng khó khăn gay gắt, đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, nỗi lo cái ăn hàng ngày như một căn bệnh kinh niên lan tràn trong dân và trong các đơn vị quân đội. Nhiều hiện tượng tiêu cực nảy sinh từ bếp ăn của các đơn vị. Đích thân tôi là Tư lệnh quân đoàn phải kiểm tra bếp ăn, cơm phải cân sao cho đều, xác định cháy như thế nào, dính nhiều cơm không. Có trường hợp nuôi quân cạo cơm dính ở cháy bán cho tân binh. Tôi trực tiếp cho luộc 1 ki-lô-gam thịt bắp thái được 150 miếng thịt ba chỉ thái được 130 miếng, chia cho bộ đội mỗi bữa mỗi người được vài miếng thịt. Có chị em bớt mỳ chính cho vào lọ pê-li-xi-lin, bị phát hiện chị em khóc, tôi cũng thấy tủi vì bất lực... Trước tình hình đó, tôi bàn trong Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh quân đoàn. Phát huy dần thế tự lực, sáng tạo của quân đoàn trong những năm đánh Mỹ vào điều kiện mới, Quân đoàn vừa bảo đảm các nhu cầu thường xuyên vừa tạo dựng một cơ ngơi khang trang sạch đẹp giữa núi đồi Việt Bắc. Chúng tôi cho tách ngành quân trang, quân lương thành hai ngành độc lập, giải thể Phòng Sản xuất thuộc Cục Hậu cần đồng thời thành lập Phòng Kế hoạch - Kinh tế và thành lập các đơn vị sản xuất chuyên nghiệp như: Đội chăn nuôi ở tỉnh Phú Khánh, ở Quân Chu; Đội khai thác gỗ và xưởng cưa, xưởng may; Đội 84 khai thác than, Đội xây dựng cơ bản, Đội 85 sản xuất dược. Bộ Tư lệnh quân đoàn còn tổ chức nhiều hội nghị chuyên đề về sản xuất vật liệu xây dựng, lương thực, thực phẩm, bảo đảm chất lượng bữa ăn cho bộ đội. Một số hình thức mới về sản xuất, làm kinh tế cũng ra đời như trồng rừng liên kết kinh tế với đơn vị quốc doanh và địa phương làm đường giao thông, xây dựng thủy điện nhỏ... đem lại hiệu quả kinh tế bước đầu.
Đầu năm 1985, cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trên tuyến biên giới phía Bắc diễn ra quyết liệt trong đó địa bàn Quân khu 2 là một trọng điểm. Cuối tháng 2 năm 1985, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam ra lệnh điều một số phân đội bộ binh và pháo binh thuộc Quân đoàn 3 tăng cường cho Quân khu 2. Thực hiện lệnh của Tổng Tham mưu trưởng, tôi trao đổi trong Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh thống nhất đưa lực lượng thuộc Sư đoàn 31 đi phối thuộc với đơn vị bạn. Trước hết dưa Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 977 và Tiểu đoàn pháo binh 11 Trung đoàn 4. Chúng tôi cử cán bộ tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật xuống tận nơi kiểm tra toàn diện các mặt của công tác bảo đảm, tạo điều kiện tốt nhất để anh em đến đúng thời gian, địa điểm quy định, an toàn. Do được chuẩn bị chu đáo, các đơn vị mang theo một cơ số đạn và nửa tháng lương thực, các đơn vị đến nơi là bước vào chiến đấu được ngay trên hướng Hoàng Su Phì và Xín Mần.
Tiếp đó, tôi ra lệnh cho Sư đoàn 10 sẵn sàng cơ động chiến đấu và giao nhiệm vụ cho Trung đoàn công bình 7 thi công mở rộng 28 ki-lô-mét đường đoạn từ Yên Lập đến Na Hang bảo đảm đường cơ động cho pháo 130 ly đi lại dễ dàng.
Trung tuần tháng 9 năm 1985, Tổng Tham mưu trưởng lệnh cho Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 điều 1 tiểu đoàn xe tăng T54B về trực thuộc Bộ Tư lệnh 479 Quân khu 7 ở Cam-pu-chia. Tôi thống nhất trong Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh quân đoàn điểu Tiểu đoàn 2 Lữ đoàn xe tăng 273 với quân số 211 cán bộ, chiến sĩ cùng 22 xe tăng và 10 xe vận tải từ Thái Nguyên vào ga Sóng Thần, rồi từ đây đi đến Xiêm Riệp, Cam-pu-chia bàn giao cho Trung đoàn 415 Mặt trận 479. Sau khi Tiểu đoàn 2 lên đường, tôi quyết định điều lực lượng của các tiểu đoàn khác thuộc Lữ đoàn 253 để thành lập 1 tiểu đoàn xe tăng mới vẫn giữ phiên hiệu Tiểu đoàn 2, đồng thời tiếp nhận xe tăng mới tại cảng Chùa Vẽ - Hải Phòng trang bị cho Tiểu đoàn 2 mới và tổ chức huấn luyện.
Cũng thời gian này, Bộ Tư lệnh quân đoàn tổ chức một đoàn công tác gồm 10 người do anh Lê Hược - Phó Hiệu trưởng Trường Quân chính làm trưởng đoàn lên đường sang nước bạn Lào giúp Sư đoàn 2 Quân đội nhân dân Lào tổ chức và xây dựng một trường đào tạo hạ sĩ quan.
Tháng 9 năm 1985, Quân đoàn dược lệnh cơ động toàn bộ Sư đoàn 31 đi phối thuộc cho Quân khu 2 chiến đấu bảo vệ biên giới. Nhiệm vụ cụ thể của Sư đoàn 31 là thay phiên phòng ngự cho Sư đoàn 313 và Sư đoàn 356 trên tuyến biên giới thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Về nhiệm vụ của Sư đoàn 31 được quy định rõ: Quá trình làm nhiệm vụ chiến đấu, Sư đoàn 31 do Quân khu 2 đảm nhiệm chỉ huy tác chiến, bảo đảm kỹ thuật, đạn dược, thương binh tử sĩ.
Do tổ chức biên chế rút gọn, trong đó đủ 3 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo binh và các phiên đội trực thuộc nhưng cán bộ, chiến sĩ còn thiếu nhiều so với quy định. Trung đoàn 866 là đơn vị sẵn sàng chiến đấu của sư đoàn nhưng cũng chỉ có 60% quân số. Trung đoàn 977 huấn luyện chiến sĩ mới chỉ đủ nhân cốt. Trung đoàn 922 rút gọn thành khung huấn luyện quân dự bị. Trung đoàn 4 pháo binh đã tăng cường gọn 1 tiểu đoàn cho Quân khu 2. Cùng với vấn đề trên thực hiện cơ chế lãnh đạo của Sư đoàn 31 vẫn chưa ổn định. Tỷ lệ đảng viên trong các phân đội chiến đấu thấp. Đại đội 2, Đại đội 6 Trung đoàn 866 là 8,1%. Đại đội 11 Trung đoàn 866, Đại đội 6 và Đại đội 7 Trung đoàn 977 thấp nhất là 3,3%.
Ngày 17 tháng 9 năm 1985, Đảng ủy Quân sự Trung ương quyết định thành lập Đảng ủy Sư đoàn 31 và chỉ định 9 đồng chí vào Đảng ủy sư đoàn; anh Nguyễn Đắc Giáp - Phó Sư đoàn trưởng về chính trị làm Bí thư, anh Trần Tất Thanh -Sư đoàn trưởng làm Phó Bí thư.
Nhằm củng cố Sư đoàn 31 có đủ điều kiện đi chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 11 năm 1985, Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân đoàn và các cơ quan Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần, Cục Kỹ thuật tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ đơn vị mọi mặt. Sau hơn một tháng, Sư đoàn 31 đã kiện toàn các tổ chức lãnh đạo, chỉ huy và quần chúng các cấp, tiếp nhận đấy đủ vũ khí trang bị vật chất và 2.236 chiến sĩ, 200 cán bộ bổ sung, nâng quân số toàn sư đoàn lên từ 85% đến 90% so với quy định. Mỗi trung đoàn bộ binh có khoảng 2.000 quân. Bộ đội được huấn luyện bổ sung tập trung vào nội dung chiến thuật đại đội bộ binh phòng ngự trực tiếp tiếp xúc trên điểm cao, địa hình núi đá. Bộ đội còn được huấn luyện 5 kỹ thuật băng bó cấp cứu cách tải thương, vận tải bộ; đào bếp Hoàng Cẩm; phòng chống dịch bệnh khi ở dã ngoại; thực hiện nếp sống ăn ở vệ sinh, cách nhận biết và sử dụng rau rừng. Riêng đội ngũ lái xe được rà soát lại, 296 đồng chí được bổ túc tay lái trên các đoạn đường khó vào ban đêm.
Giữa tháng 11 năm 1985, Sư đoàn 31 làm lễ xuất quân. Từ ngày 16 đến 19 tháng 11 năm 1985, khối hành quân thứ nhất gồm chỉ huy sư đoàn, các phân đội trực thuộc Trung đoàn 866, Trung đoàn 4 pháo binh sử dụng 146 xe vận tải chuyển thẳng từ Võ Nhai, Thái Nguyên lên Vị Xuyên - Hà Giang. Tiếp đó, từ ngày 16 đến ngày 20 tháng 12 năm 1985, lực lượng cơ động đợt hai gồm Trung đoàn 977 được 61 xe vận tải cũng rời Võ Nhai đến vị trí tập kết an toàn.
Đến vị trí mới, dưới sự chỉ huy của Sư đoàn trưởng Trần Tất Thanh, Sư đoàn 31 nhanh chóng vào thay phiên chiến đấu cho 2 sư đoàn bạn. Trung đoàn pháo binh 4 do anh Nguyễn Văn Phú - Trung đoàn trưởng chỉ huy nhận bàn giao từ Trung đoàn pháo binh 457. Trung đoàn 866 do anh Nguyễn Hồng Thụ - Trung đoàn trưởng chỉ huy đảm nhiệm phòng ngự khu vực của 3 trung đoàn 982, 881 và 754 Sư đoàn 313. Trung đoàn 977 do anh Nguyễn Khang Đàm chỉ huy đảm nhiệm khu vực Trung đoàn 981 và Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 135 Sư đoàn 356. Do tổ chức chỉ huy chặt chẽ có kế hoạch đến từng người, từng căn hầm, từng hỏa khí, lại vào thay phiên ban đêm nên nhìn chung các đơn vị của Sư đoàn 31 hoàn thành nhiệm vụ, đúng thời gian nhanh gọn, đầy đủ và an toàn.
Để phòng ngự lâu dài, chúng tôi chỉ đạo cho Sư đoàn 31 vừa tích cực chiến đấu, vừa ra sức củng cố hệ thống công sự sẵn có và xây dựng thêm một số công sự mới. Làm hệ thống đường chui, cầu thang sắt, cải tạo thêm các hang núi, hốc đá thành kho trạm, hầm trú ẩn và sinh hoạt. Đặc biệt các hầm bê tông xây dựng trên các điểm tựa trực tiếp tiếp xúc với địch khá kiên cố, chống được sức công phá của đạn pháo 130 ly và 160 ly. Vì vậy, trong suốt 7 tháng chiến đấu, Sư đoàn 31 đã đẩy lùi 5 đợt tiến công của địch: Đợt 1 từ ngày 2 đến ngày 10 tháng 12 năm 1985; đợt 2 từ ngày 11 tháng 12 đến ngày 18 tháng 1 năm 1986; đợt 3 từ ngày 19 đến ngày 28 tháng 1 năm 1986; đợt 4 từ ngày 29 tháng 1 đến ngày 28 tháng 4 năm 1986; đợt 5 từ ngày 29 tháng 4 đến ngày 30 tháng 6 năm 1986, bảo vệ vững chắc một vùng biên cương của Tổ quốc.
Mặc dù làm nhiệm vụ trên một địa bàn núi non hiểm trở, đối phương nhiều lần bắn pháo vào trận địa rất ác liệt và bắn pháo sâu vào hậu phương ta, nhưng công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật của Quân đoàn với Sư đoàn 31 chiến đấu ở Vị Xuyên vẫn ổn định và chất lượng phục vụ ngày càng tốt hơn. Chúng tôi cử anh Trần Công Bình - Cục phó Cục Hậu cần trực tiếp chỉ đạo công tác bảo đảm hậu cần cho Sư đoàn 31. Những sáng kiến cải tiến việc bảo đảm ăn, ở và sinh hoạt cho bộ đội trên các trận địa chốt, hang hốc đá được áp dụng có hiệu quả. Các anh đã kết hợp giữa vận tải cơ giới ở phía sau và vận tải bộ ở phía trước, ngoài ra còn dùng 4 xe trâu kéo để vận chuyển và cấp 150 bếp đều cho các chốt...
Trước kia bộ đội phải dùng sức người gùi can nước 20 lít, địch phát hiện bắn người bị thương, can nước thủng chảy hết, Sư đoàn đã nghiên cứu lắp đặt thành công hệ thống bơm nước, có đường ống dài 1.400 mét và xây một bể chứa nước bằng đá chứa được mấy trăm mét khối nước bảo đảm nước sinh hoạt cho bộ đội.
Do địa hình núi đá và khoảng cách giữa ta và dịch chỉ trong tầm lựu đạn nên việc vận chuyển thương binh được thực hiện vào ban đêm. Trong điều kiện khắc nghiệt của cuộc chiến, sư đoàn phát động phong trào trồng rau xanh, làm giá đỗ, đậu phụ, dưa muối, lạc vừng đưa lên chốt.
Cuối tháng 6 năm 1986, Sư đoàn 31 hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới, tổ chức bàn giao đầy đủ, chu đáo khu vực phòng ngự cho đơn vị bạn rồi chia thành 12 khối cơ động bằng ô tô về vị trí huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên an toàn.
Ghi nhận chiến công của Sư đoàn 31, Chủ tịch nước đã tặng thưởng cho Sư đoàn 31 và Trung đoàn 866 Huân chương Quân công hạng Nhì; tặng Huân chương Chiến công hạng Ba cho 86 đơn vị và cá nhân đã lập nhiều chiến công.
Hôm gặp anh Vũ Lập ở Bộ Tư lệnh Quân khu 2, anh nói với tôi: "Sư đoàn 31 có mặt ở Vị Xuyên đã cải thiện được thế trận, cán bộ, chiến sĩ sư đoàn rất dũng cảm và có nhiều sáng tạo trong việc bảo đảm công sự trận địa, bảo đảm hậu cần nhất là nước sinh hoạt, cán bộ, chiến sĩ Quân khu 2 phải học tập".
Thực hiện chủ trương điều chỉnh thế bố trí chiến lược, tháng 4 năm 1987, Bộ Quốc phòng thông báo sơ bộ nhiệm vụ di chuyển đội hình từ miền Bắc vào miền Trung Trung Bộ và Tây Nguyên cho Quân đoàn 3 mang mật danh "nhiệm vụ 487".
Ngày 23 tháng 10 năm 1987, Tổng Tham mưu trưởng giao nhiệm vụ chính thức bằng văn bản cho Quân đoàn 3 di huyển toàn bộ đội hình từ miền Bắc vào Khu 5, thời gian hoàn thành trong năm 1988. Kế hoạch hành quân và tổ chức chỉ huy hành quân phải chu đáo, chặt chẽ.
Tiếp đó, ngày 31 tháng 12 năm 1987, Tổng Tham mưu trưởng ra mệnh lệnh bổ sung về tổ chức hành quân đến vị trí mới của Quân đoàn 3, trong đó rút ngắn thời gian hành quân di chuyển từ 1 năm xuống còn 6 tháng (từ 15 tháng 1 đến 15 tháng 7 năm 1988). Yêu cầu nhiệm vụ trong vòng 6 tháng, Quân đoàn phải chuyển gọn đội hình với hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, toàn bộ vũ khí phương tiện, trong đó có hàng nghìn xe cộ súng pháo lớn, hàng vạn tấn vật chất bằng các phương tiện tàu hỏa, ô tô; tàu thủy, vượt chặng đường gần 1.500 ki-lô-mét qua 16 tỉnh thành. Trong khi đó, lượng gạo dự trữ của Quân đoàn 3 ở phía Bắc đã cạn, có đơn vị phải chạy ăn từng ngày. Số xe ô tô có tới 60% là xe cũ, đã sử dụng từ 12 đến 16 năm, với 50 loại xe của 10 nước chế tạo, có 70 đến 80% tổng số xe niêm cất. Phần lớn lực lượng cơ động bằng tàu hỏa phải tập kết lên tàu ở nhiều ga khác nhau cách xa đơn vị, khi xuống tàu có đơn vị phải cơ động gần 300 ki-lô-mét về vị trí đóng quân nên công tác hiệp đồng và bảo đảm đòi hỏi phải hết sức chặt chẽ và tỷ mỷ. Nhưng khó khăn lớn nhất vẫn là nhận thức về nhiệm vụ chưa đầy đủ, trong đó không ít cán bộ ngại đi xa, lo lắng hậu phương gia đình đời sống thiếu thốn khó khăn, tiếc công sức 10 năm xây dựng doanh trại...
Đầu tháng 7 năm 1987, tôi dẫn một số cán bộ đi gọn trong chiếc xe Uoát vào Tây Nguyên gặp gỡ họp bàn với Thường trực Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai - Kon Tum. Anh Nguyễn Văn Sỹ (Ksor Krơn) - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy; các anh Nguyễn Văn Tiềm - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Hoàng Lê - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh, Thiếu tướng Kpă Thìn (Bơ Hâm) - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh.
Sau khi nghe tôi báo cáo ý định của trên điều Quân đoàn 3 về đóng quân tại các khu vực trong tỉnh, điều kiện thuận lợi và khó khăn của quân đoàn, các anh lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh hoàn toàn nhất trí với nhiệm vụ và dự kiến các khu vực đóng quân của quân đoàn và hứa sẽ tạo mọi điều kiện giúp đỡ để sớm được đón Quân đoàn 3 trở lại Tây Nguyên. Anh Nguyễn Văn Sỹ kết luận: "Tây Nguyên là căn cứ vững chắc của cả nước, nên phải xây dựng Tây Nguyên vững chắc cả về kinh tế, chính trị, quân sự. Do đó, Quân đoàn 3 ở Tây Nguyên để cùng nhân dân các dân tộc xây dựng Tây Nguyên giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng".
Trở lại Thái Nguyên trong cuộc họp Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh, nghe tôi báo cáo tình hình, các anh rất phấn khởi. Bộ Tư lệnh quyết định cử anh Đinh Xuân La - Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng quân đoàn dẫn đầu một đoàn cán bộ gồm anh Trần Tất Thanh - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 31, anh Trần Công Bình - Cục phó Cục Hậu cần, anh Lê Hồng Thái -Cục trưởng Cục Kỹ thuật và một số trợ lý cơ quan lên đường vào Tây Nguyên xác định các vị trí bố trí đội hình đóng quân mới của quân đoàn, đường hành quân và các cung trạm, các khu vực sản xuất vật liệu, xây dựng, chăn nuôi, trồng trọt, thống nhất với địa phương về bảo đảm nguồn lương thực, thực phẩm, tài chính, vật tư, tình hình chính trị, phong tục, tập quán của địa phương.
Sau khi hoàn thành trinh sát thực địa, từ cuối tháng 8 năm 1987 công tác chuẩn bị cho cuộc hành quân di chuyển được xúc tiến mạnh. Quân đoàn tập trung vào xây dựng quyết tâm, lập các kế hoạch, phương án. Kế hoạch hành quân di chuyển; kế hoạch điều chỉnh xây dựng lực lượng; kế hoạch bảo đảm thông tin liên lạc chỉ huy hành quân; kế hoạch bảo đảm hậu cần cho hành quân; kế hoạch bảo đảm kỹ thuật cho hành quân, kế hoạch bàn giao tiếp nhận doanh trại; kế hoạch tổ chức xây dựng cơ bản và bảo đảm đời sống ở địa bàn mới; kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị.
Ngày 13 tháng 10 năm 1987, tôi lên Bộ báo cáo quyết tâm, phương án thực hiện nhiệm vụ 487, được Bộ hoàn toàn nhất trí phê duyệt và ra mệnh lệnh chính thức.
Từ ngày 10 đến ngày 14 tháng 11 năm 1987, Quân đoàn tổ chức hội nghị quân chính, hạ đạt mệnh lệnh chính thức cho chỉ huy và cơ quan các cấp. Đồng thời phát động một đợt thi đua mới trong toàn quân đoàn, nhằm thực hiện thắng lợi "nhiệm vụ 487" với kết quả cao nhất.
7 giờ ngày 25 tháng 11 năm 1987, đoàn xe của khối chỉ huy do anh Phạm Duy Tân - Phó Tư lệnh quân đoàn chỉ huy rời cơ quan quân đoàn tiến về phía Nam mở đầu cuộc hành quân lịch sử trở lại Khu 5 của Quân đoàn 3. Ngày hôm sau (26-11), khối hành quân thứ hai gồm 44 xe ô tô chở 220 cán bộ, chiến sĩ và 130 tấn vật chất hậu cần, kỹ thuật, khí tài công binh của Bộ Tham mưu, Cục Hậu cần, Cục Kỹ thuật, cũng lên đường. Hai ngày sau khối hành quân thứ ba, gồm hơn 40 xe ô tô xe đặc chủng của Trung đoàn công binh 7, Tiểu đoàn 30 (Cục Kỹ thuật) chở 215 người và 120 tấn vật chất bắt đầu xuất phát. Các lực lượng Bộ Tham mưu nhanh chóng lập 7 trạm ở Tam Điệp, ngã ba Vọt, Quán Hàu, bắc đèo Lăng Cô, Nam Ô, nam Chu Lai và khu vực Đoàn 556, để tiến hành điều chỉnh giao thông, chỉ đường, kiểm soát quân sự, duy trì kỷ luật hướng dẫn các đoàn xe vào đúng vị trí tạm dừng. Đồng thời đặt 5 trạm thông tin cố định và cơ động ở Vinh, ngã ba Vọt, Nam Ô, Đà Nẵng và Quy Nhơn. Cục Hậu cần cũng triển khai các trạm bổ sung xăng dầu, quân y ở ngã ba Vọt, Liên Chiểu, Diêu Trì. Cục Kỹ thuật triển khai các trạm sửa chữa, cứu kéo ở bắc đèo Ngang, bắc đèo Hải Vân, đông đèo An Khê. Do được chuẩn bị chu đáo, tổ chức chặt chẽ nên quá trình cơ động gặp mưa bão kéo dài nhưng các phân đội hành quân đường bộ đều hoàn thành nhiệm vụ. Đến ngày 8 tháng 12 năm 1987, lực lượng hành quân bộ đã vào vị trí tập kết theo quy định, toàn bộ xe vận tải có mặt đầy đủ ở Sư đoàn 860 sẵn sàng đón lực lượng hành quân bằng tàu hỏa đưa về vị trí đóng quân.
Sau khi khối hành quân tiền trạm bằng ô tô xuất phát, từ ngày 6 đến ngày 31 tháng 12 năm 1987 lực lượng tiền trạm đi bằng tàu hỏa gồm 1.875 cán bộ, chiến sĩ, 98 xe ô tô, 20 xe máy công binh và 554 tấn hàng hóa vật chất đã nhanh chóng tập kết về ga Lưu Xá (xe máy), ga Thường Tín (người), ga Hà Nội (hàng hóa) lần lượt lên tàu vào ga Diêu Trì, Quy Nhơn, Bình Định. Ngay sau khi xuống tàu, các lực lượng đã được xe ô tô chuyển thẳng về vị trí đóng quân của từng đơn vị.
Song song với tổ chức hành quân tiền trạm, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh quân đoàn tập trung lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị, cơ quan quân đoàn khẩn trương điều chỉnh các kế hoạch và đẩy mạnh mọi công tác chuẩn bị hành quân theo lệnh mới của Bộ. Tại Sở chỉ huy cơ bản, Sở chỉ huy tiền phương và Sở chỉ huy bổ trợ của quân đoàn, nhiều cuộc họp quán triệt nhiệm vụ, bàn bạc triển khai thực hiện phương án, kế hoạch được tổ chức. Chúng tôi chỉ đạo các cơ quan quân đoàn tranh thủ mọi sự giúp đỡ của cơ quan cấp trên và hiệp đồng chặt chẽ với Cục Vận tải, Tổng cục Đường sắt, các đơn vị bạn và cấp ủy, chính quyền nhân dân các địa phương.
Theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng điều Sư đoàn 860 thuộc Quân khu 5 về trực thuộc Quân đoàn 3, ngày 18 tháng 12 năm 1987, việc bàn giao sư đoàn đã được hoàn thành tại Sở chỉ huy Sư đoàn 860. Cũng vào dịp này, theo quyết định của trên, anh Hà Quốc Toàn - Phó Tư lệnh chính trị Quân đoàn nghỉ hưu, trên bổ nhiệm anh Tiêu Văn Mẫn làm Phó Tư lệnh chính trị. Trên cũng diều anh Đinh Xuân La - Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng về Học viện Quân sự cấp cao và bổ nhiệm anh Trần Tất Thanh làm Phó Tư lệnh -Tham mưu trưởng quân đoàn. Tại các cơ quan quân đoàn và các đơn vị cũng có những thay đổi về lãnh đạo, chỉ huy nhằm kiện toàn tổ chức cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới.
Thời gian này, Quân đoàn đã giải quyết cho 389 cán bộ có hoàn cảnh khó khăn được nghỉ hưu, chuyển ngành, xuất ngũ và đi xuất khẩu lao động ra nước ngoài. Nhằm tạo điều kiện cho cán bộ giải quyết một phần khó khăn của hậu phương và yên tâm lên đường, Bộ Tư lệnh chúng tôi đã giải quyết 100% quân số lần lượt nghỉ phép, tranh thủ về thăm gia đình, kèm theo thư động viên thăm hỏi của Tư lệnh quân đoàn. Bằng nguồn vốn tự có, Quân đoàn giải quyết chính sách hậu phương cho cán bộ, trợ cấp làm nhà và sửa chữa nhà cho 407 cán bộ tại chức từ cấp tiểu đoàn trở lên; trợ cấp khó khăn 27 tấn gạo cho 2.500 cán bộ các cấp... Với nội dung toàn diện, biện pháp tổng hợp, kiên trì giáo dục thuyết phục nên công tác đảng, công tác chính trị thu được kết quả tốt. Trong đó vấn đề khó khăn hơn cả là tư tưởng, nhận thức của cán bộ chủ trì các cấp từng bước được giải quyết. Mọi người yên tâm, trách nhiệm đẩy nhanh quá trình chuẩn bị hành quân, tạo không khí phấn khởi trong toàn đơn vị.
Trong quá trình chuẩn bị hành quân, Quân đoàn thường xuyên nhận được sự chỉ đạo, giúp đỡ của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật và sự giúp đỡ của Tổng cục Đường sắt, Quân chủng Hải quân, Quân khu 1, Quân khu 5; đồng chí Đoàn Khuê - Tổng Tham mưu trưởng và các đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp kiểm tra và động viên quân đoàn.
Ngày 28 tháng 2 năm 1988 đợt hành quân thứ nhất của quân đoàn bắt đầu. Trong khi từng đoàn xe ô tô vận tải từ Thái Nguyên, Vĩnh Phúc tập kết gần 8.000 bộ đội của Sư đoàn 10, Sư đoàn 31, Sư đoàn 320 và các đơn vị binh chủng, nhà trường, cơ quan quân đoàn về ga Thường Tín lên tàu vào Nam, thì gần 300 xe chiến đấu, xe chuyên dụng, pháo lớn và gần 5.000 tấn hàng hóa vật chất được xếp gọn trên các toa tàu hàng ở các ga: Lưu Xá, Khúc Rồng và Vĩnh Yên cũng lần lượt chuyển vào phía Nam. Cùng lúc, 108 cán bộ, chiến sĩ, 35 phương tiện xe pháo, 500 tấn xi măng, 300 bộ vì kèo thép... đi trên 2 chiếc tàu thủy của Hải quân cùng rời cảng Hải Phòng rồi cập cảng Quy Nhơn an toàn.
Trong khi đợt hành quân thứ nhất đang diễn ra, ngày 18 tháng 4 năm 1988, Đại tướng Lê Đức Anh - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã vào Tây Nguyên thăm và làm việc với Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 tại Sở chỉ huy tiền phương ở thị xã Plei Ku. Sau khi nghe tôi báo cáo quá trình chuẩn bị và thực hành chuyển quân, Đại tướng Lê Đức Anh biểu dương sự nỗ lực của quân đoàn. Đại tướng nói: "Quân đoàn có kinh nghiệm tổ chức hành quân cả Quân đoàn từ Cam-pu-chia ra miền Bắc, nay lại chuyển quân từ miền Bắc vào Khu 5, Tây Nguyên, các đồng chí làm rất tốt, phải tổng kết thành kinh nghiệm phổ biến cho toàn quân".
Trong thời gian làm việc với Quân đoàn, đồng chí Bộ trưởng đã trực tiếp đi kiểm tra Sư đoàn 10, Sư đoàn 320 và phê duyệt vị trí đóng quân mới của Quân đoàn 3.
Từ ngày xuất phát cuộc hành quân tiền trạm đến khi toàn bộ đội hình quân đoàn chuyển từ Bắc vào Tây Nguyên -- Khu 5 thời gian là 8 tháng 5 ngày. Quân đoàn đã sử dụng 53 chuyến tàu hỏa với 815 toa, 1.147 xe ô tô chuyển thẳng, 8.806 chuyến xe ô tô vận chuyển ở hai dầu lên xuống tàu và 2 chuyến tàu thủy Hải quân, chuyển được 20.961 người, hơn 1.500 xe cơ giới và pháo lớn, hơn 11 nghìn tấn vũ khí, đạn dược hàng hóa các loại...
Ngày 22 tháng 8 năm 1988, Quân đoàn tổ chức Hội nghị tổng kết "nhiệm vụ 487". Hội nghị khẳng định: "Sau 8 tháng thực hiện nhiệm vụ hành quân di chuyển, Quân đoàn đã đưa toàn bộ lực lượng, phương tiện, trang bị vũ khí, kỹ thuật và vật chất vào vị trí mới. Thực hiện đúng ý định và mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng Tham mưu trưởng, thực hiện đầy đủ phương châm, tư tưởng chỉ đạo "Đi nhanh, đi gọn, đến đủ, an toàn, kỷ luật nghiêm, sẵn sàng chiến đấu cao".
Từ thực tiễn cuộc hành quân di chuyển lớn trong thời bình, Hội nghị rút ra 4 bài học kinh nghiệm thành công là:
Một là, quán triệt ý định cấp trên, nắm chắc nhiệm vụ đơn vị, thống nhất trên dưới là cơ sở hạ quyết tâm đúng đắn, tổ chức thực hiện nhiệm vụ thắng lợi.
Hai là, lập kế hoạch đầy đủ, chính xác, tổ chức thực hiện chế độ, sinh hoạt là yếu tố quyết định hoàn thành nhiệm vụ.
Ba là, tổ chức lực lượng hậu cần đủ sức bảo đảm cho nhiệm vụ hành quân và tổ chức đời sống ở địa bàn mới là một nhân tố có tính bảo đảm, quyết định đến hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ.
Bốn là, tổ chức bảo đảm kỹ thuật chu đáo là yếu tố quyết định cho hành quân bằng xe cơ giới.
Cuộc hành quân di chuyển toàn bộ Quân đoàn 3 từ miền Bắc vào Khu 5, Tây Nguyên năm 1988, là cuộc chuyển quân lớn đầu tiên của quân đội ta trong những năm đầu thực hiện đường lối đối mới của Đảng. Sau khi ổn định vị trí đóng quân cho các đơn vị trong quân đoàn, tháng 2 năm 1989, tôi có quyết định điều về làm Cục trưởng Cục Quân lực - Bộ Tổng tham mưu, anh Trần Tất Thanh được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 3 thay tôi.
Vượt qua bao khó khăn trở ngại và vượt lên chính mình, Quân đoàn 3 đã giành được những thành tựu toàn diện quan trọng trên con đường xây dựng quân đoàn theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đây là giai đoạn chuẩn bị đầy ý nghĩa để quân đoàn tiến những bước dài vững chắc trong những năm tiếp theo.
Chia tay Quân đoàn 3 - cái nôi đã nuôi dưỡng, rèn luyện tôi, từ một chiến sĩ Đại đội 9 Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 trở thành Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320; Tư lệnh quân đoàn 3 -mang theo trong tim tôi ơn sâu nghĩa nặng suốt đời với hàng vạn đồng chí, đồng đội đã hy sinh trên chiến trường và hàng vạn cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm ra sức xây dựng quân đoàn; để tôi được sống và hôm nay nhận quyết định về công tác tại Cục Quân lực Bộ Tổng tham mưu.
Về Cục Quân lực công việc ổn định hơn, tôi có điều kiện mở rộng tầm tư duy chiến lược về tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc... các mối quan hệ do vị trí công tác với nhiều đầu mối, nhiều ngành cả trong quân đội, ngoài Nhà nước và các địa phương. Tôi luôn ý thức phải nắm thật chắc quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân xây dựng nền quốc phòng toàn dân - chiến tranh nhân dân, qua đó rèn luyện bản lĩnh chính trị và tư chất của người sĩ quan cao cấp, đồng thời lấy chữ Dũng - chữ Liêm - chữ Chính -chữ Nhân làm mục tiêu tu dưỡng suốt cuộc đời.
Đầu tháng 3 năm 1989 tôi cầm quyết định bổ nhiệm Cục trưởng Cục Quân lực về gặp Tổng Tham mưu trưởng Đoàn Khuê tại phòng làm việc của ông.
Lời đầu tiên ông thân mật hỏi tôi đã về qua nhà chưa? Con cái, mức sống gia đình ra sao?
Tôi thưa:
- Cảm ơn anh, tôi được 4 con, 2 trai, 2 gái, còn phải nuôi 2 cháu: một cháu đại học năm thứ 2, một cháu học lớp 10; tiến lương eo hẹp, vợ tôi phải nuôi thêm lợn, phải nấu xôi bán buổi sáng, các cháu phải tranh thủ vào cơ quan xin nước vo gạo, cơm thừa, lấy cây chuỗi và rau nuôi lợn, vất vả nhưng vui. Các cháu ngoan, học hành tốt, gia đình êm ấm.
Ông cười:
- Phần lớn cán bộ mình giờ phải như thế cả.
Tôi thưa:
- Có đồng chí tối phải đi đạp xe xích lô, sửa xe đạp kiếm thêm... Cuộc sống tuy còn nhiều khó khăn, vất vả, song so với những anh em hy sinh trên chiến trường giờ chưa tìm được hài cốt thì còn là may mắn lắm phải không anh?
Ông cười nhưng nét mặt tư lự và chuyển sang hỏi tình hình quân đoàn trước khi tôi ra đây có gì khác không? Cậu Thanh làm việc thế nào?
Tôi trả lời:
- Thưa anh! Anh Trần Tất Thanh là người nói ít, khi đã nắm chắc nhiệm vụ thì làm rất kiên quyết và sáng tạo, làm bằng được; tính nóng, nhưng thẳng thắn, phục thiện, chân thật, thương người; đội ngũ cán bộ Quân đoàn 3 là những con người được tôi luyện qua chiến tranh từ cán bộ đại đội trở lên qua chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, phía Bắc, làm nhiệm vụ quốc tế Cam-pu-chia, lại được thử thách gần 10 năm vừa xây dựng vừa sẵn sàng chiến đấu ở miền Bắc rồi lại cơ động vào Tây Nguyên - anh em trưởng thành. Đội ngũ này quý lắm anh ạ! Tôi tiếc không được sống cùng anh em xây dựng quân đoàn trong thời kỳ này!
Ông cười vui và chuyển sang gọi tôi bằng cậu.
- Cậu phải trao lại cho thế hệ kế tiếp, về cơ quan Bộ nhiệm vụ nặng nề hơn, cần phát huy bề dày kinh nghiệm tích lũy được trong những năm chiến tranh và quản lý đơn vị. Cậu về đúng lúc Bộ Tổng tham mưu đang tập trung thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng VI. Về nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, Đại hội Đảng VI khẳng định: Tiếp tục thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhằm tăng cường khả năng quốc phòng và an ninh của đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc cần xây dựng quân đội nhân dân chính quy ngày càng hiện đại có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, có tổ chức hợp lý cân đối gọn và mạnh, có kỷ luật chặt chẽ, có trình độ sẵn sàng chiến đấu cao; tiếp tục phát triển dân quân, tự vệ với số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Tăng cường xây dựng lực lượng dự bị, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, phát triển nền khoa học, quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Thực hiện đầy đủ chính sách hậu phương quân đội. Từng bước phát triển công nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực kinh tế của đất nước...
Dừng một lát, ông nói tiếp:
- Bước vào thời kỳ đổi mới trong xu thế hòa bình đối ngoại trên thế giới và khu vực; đất nước ta vẫn ở trong tình trạng "vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh" các lực lượng vũ trang nhân dân vừa sẵn sàng chiến đấu với cường độ khẩn trương, quyết liệt để bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, vừa tham gia lao động sản xuất xây dựng đất nước... Bộ Tổng tham mưu nhận định "ít có khả năng tiến hành chiến tranh xâm lược lớn"; Bộ Chính trị cũng đánh giá "nếu ta vững thì chiến tranh lớn ít có thể xảy ra".
Trước tình hình lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân đã và đang ở quy mô lớn; tổ chức lực lượng quân ội đang bị mất cân đối giữa quy mô và tổ chức quá lớn với khả năng tổng quân số và khả năng trang bị với các mặt bảo đâm của Nhà nước. Vì vậy, Bộ ra quyết định điều chỉnh tổ chức lực lượng quân đội một cách thận trọng, đưa quy mô cơ cấu tổ chức lực lượng phù hợp nhiệm vụ quân sự - quốc phòng và khả năng bảo đảm các mặt của đất nước, trên nền tảng điều chỉnh thế bố trí chiến lược, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân...
Dừng một lúc, uống một ngụm nước, ông nói tiếp:
- Bộ điểu một số cán bộ từ các chiến trường, các quân khu, các quân, binh chủng về tăng cường, thay thế một số vị trí cơ quan Bộ. Đồng chí Tiến về Cục Quân lực thay đồng chí Triệu Huy Hùng nghỉ hưu, đồng chí có ý kiến gì không?
Tôi thưa:
- Nếu nói về sở trường, nguyện vọng cá nhân, thì tôi trưởng thành từ binh nhì tới Tư lệnh quân đoàn quen nhất, thuần thục nhất là chiến đấu, sống hoạt động ở đơn vị chiến đấu; nhưng nói về tư chất của người quân nhân cách mạng, ý thức tổ chức của người đảng viên, tiêu chuẩn số một là phục tùng mệnh lệnh. Chức trách mới đối với tôi là rất mới. Nghe anh phổ biến đã cảm thấy nhiều nhiệm vụ mới mẻ nhưng tôi tin được tập thể Cục Quân lực giúp đỡ, cộng tác, bồi dưỡng và sự chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ dần dần tôi sẽ cố gắng làm được và làm tốt!
Ông cười bắt tay tôi rất chặt và nói to:
- Lời hứa của cậu đấy nhé! Mai về Cục Quân lực đi, công việc bù đầu đấy!
Tôi về Cục Quân lực gặp anh Triệu Huy Hùng - Thiếu tướng, Cục trưởng. Anh nắm chặt tay tôi hồi lâu với khuôn mặt hồ hởi, đôi mắt sáng và nụ cười cởi mở:
- Hôm qua cậu làm việc với Tổng Tham mưu trưởng, hôm nay về Cục, chiều qua Văn phòng Bộ thông báo cho tôi và bây giờ hai chúng mình gặp nhau.
Cảm giác đầu tiên tôi thấy lòng mình nhẹ hẳn và quý mến anh qua những cử chỉ ban đầu anh dành cho tôi, mặc dù anh lớn hơn tôi cả về tuổi đời, tuổi quân, tuổi Đảng, đặc biệt về tuổi nghề anh dày dạn lão luyện thuộc bậc thầy của tôi!
Những suy nghĩ ban đầu và các dự kiến ứng xử khi tiếp xúc với anh đã tạo cho tôi tự nhiên hơn, thân mật hơn, không phải "uốn lưỡi 2-3 lần hãy nói" như mấy anh khuyên tôi khi về cơ quan Bộ.
Tôi bạo dạn và nói luôn hôm qua gặp anh Đoàn Khuê giao nhiệm vụ và nhắc hôm nay về Cục gặp anh. Tôi đưa quyết định bổ nhiệm Cục trưởng cho anh xem.
Anh nhận đặt xuống bàn không đọc và nói luôn:
- Mình được thông báo từ tháng trước, mình nghỉ cũng hợp lý rồi, tuy sức khỏe chưa đến nỗi nào, song tuổi đã đến theo quy định của tổ chức.
Hai anh em trao đổi tâm tình với nhau chừng ba mươi phút; anh đưa cho tôi hai tập tài liệu dày cộp bảo về đọc kỹ, trong đó có Nghị quyết của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị; Nghị quyết Đảng ủy Quân sự Trung ương, các mệnh lệnh, chỉ thị của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu và chức năng nhiệm vụ của Cục Quân lực qua các thời kỳ cách mạng (1979 - 1985) và (1986 - 1990) về điều chỉnh thế bố trí chiến lược, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân...
Anh tóm lược mấy nét về kết quả hoạt động của Cục thời kỳ (1979-1985) và tóm lược nội dung Nghị quyết Đại hội Đảng VI thời kỳ (1986-1990) về nhiệm vụ quốc phòng (như anh Đoàn Khuê đã phổ biến cho tôi ngày hôm trước).
Anh chuyển sang nói về chức năng nhiệm vụ, biên chế tổ chức Cục Quân lực và công việc đang tiến hành...
Ngày hôm sau, trong buổi giao ban Cục, anh giới thiệu tôi với anh em và công bố lịch Cục trưởng mới làm việc với các phòng ban, tiếp xúc dẫn với công việc và nội dung nhiệm vụ của cục qua các phòng, đồng thời vừa giao lưu tình cảm mới -cũ trong cục. Tôi dành thời gian đọc kỹ các nghị quyết của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Đảng ủy Quân sự Trung ương, các mệnh lệnh, chỉ thị và các văn bản của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, các tổng cục, các ngành thuộc cơ quan nhà nước... có liên quan.
Tôi dự các buổi giao ban hàng tháng, các buổi thông qua báo cáo về tình hình tổ chức lực lượng của Cục Quân lực với Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng, làm quen với sinh hoạt của cơ quan Bộ... Từng bước, anh Triệu Huy Hùng hướng dẫn, giúp đỡ và bàn giao chức trách Cục trưởng cho tôi vào cuối tháng 6 năm 1989. Tiếp nhận bàn giao trong thời kỳ này Cục đang tiếp tục hướng dẫn cơ quan Quân lực toàn quân tích cực thực hiện nhiệm vụ trên các mặt; tổ chức, biên chế, quân số, chính sách, trang bị, động viên theo hướng: Điều chỉnh lực lượng thường trực chiến đấu gọn, mạnh, lực lượng xây dựng kinh tế phù hợp, hiệu quả, thiết thực.
Lúc này cả nước có hơn một triệu thương binh và gia đình liệt sĩ; một triệu cán bộ nghỉ hưu, hơn ba triệu người mắc bệnh do di chứng chiến tranh và bốn triệu người không có việc làm, ngân sách Nhà nước chi cho quốc phòng chỉ đạt dưới 19% so với yêu cầu. Thực trạng quân đội đang bị mất cân đối giữa quy mô tổ chức quá lớn với khả năng tổng quân số và khả năng trang bị xuống cấp nhanh, nhiều loại thiếu đồng bộ, lượng dự trữ rất mỏng.
Giữa tháng 7 năm 1989 trong cuộc họp "Thủ trưởng Bộ đánh giá về thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng VI đổi mới về quốc phòng, đồng chí Bộ trưởng Lê Đức Anh nhấn mạnh đổi mới là tất yếu và cấp thiết song bước đi phải thận trọng và phù hợp; "đổi mới về quân sự, quốc phòng với nội dung cốt lỗi" cái gì trước đã đúng nay tiếp tục làm cái gì trước đây sai thì nay sửa lại, cái gì trước đây chưa làm nay thấy cần thì bổ sung, cái gì trước đây làm theo tinh thần lúc đó nay đã khác, thấy cần thay đổi thì thay đổi cho phù hợp với tình hình mới". Bộ trưởng nhấn mạnh về phương hướng chung xây dựng lực lượng vũ trang, các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch tổ chức lực lượng; ông nhắc đi nhắc lại phải tiến hành khẩn trương, chặt chẽ công tác biên chế gắn liền với công tác quy hoạch tổ chức lực lượng và nhận xét hoạt động các tổ trung tâm nghiên cứu chức danh, biên chế của các tổng cục, các quân binh chủng, quân khu, quân đoàn, thực hành chậm chưa đạt yêu cầu, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ giảm tổng quân số và chấn chỉnh biên chế tổ chức. Ông so sánh cơ quan nhà nước; các cục, vụ được biên chế vài chục người, phân công, phân nhiệm hợp lý nên mọi việc đều trôi chảy; thời kỳ ông làm Cục trưởng Cục Quân lực quân số 34 người công việc đâu vào đấy cả!
Cuối tháng 8 năm 1989, quán triệt mệnh lệnh, chỉ thị của Bộ, Nghị quyết lãnh đạo của Đảng ủy Bộ Tổng tham mưu - cơ quan Bộ Quốc phòng về chấn chỉnh tổ chức biên chế giảm quân số bỏ cấp phòng lấy Cục Quân lực làm thí điểm cho Bộ.
Đảng ủy - Chỉ huy Cục triệu tập hội nghị cán bộ, đảng viên, công nhân viên toàn Cục thảo luận phát huy sáng kiến, tập trung trí tuệ tập thể xây dựng mẫu biểu biên chế, tổ chức Cục theo cơ chế bỏ cấp phòng, giảm quân số, nâng cao hiệu suất công tác.
Qua 7 tháng nghiên cứu thực nghiệm với 8 cuộc họp cùng hàng trăm ý kiến đóng góp thiết lập nhiều đề án, trong đó có 5 đề án khả thi, tiến hành thực nghiệm lần lượt từ đề án biên chế 32 người + 36 người + 82 người + 90 người và 79 người, các đề án đều được thực nghiệm thí điểm.
Đến giữa tháng 3 năm 1990 toàn Cục thống nhất lấy để án giảm 5 phòng gồm: Phòng Tổ chức biên chế, Phòng Trang bị, Phòng Quân số chính sách, Phòng Động viên - tuyển quân, Phòng Khoa học quân sự.
Điều chỉnh, xếp sắp biên chế tổ chức Cục thành các bộ phận: Bộ phận kế hoạch tổng hợp thực hiện các chức trách: tổ chức - biên chế - trang bị - quân số - tuyển quân - động viên; Bộ phận quản lý đầu mối đơn vị; Bộ phận thông tin tư liệu; Bộ phận chính sách; Bộ phận tổng kết. Chuyển Phòng Hành chính, vật tư xuống ban, riêng Phòng Hợp tác quốc tế về lao động vẫn duy trì theo quy chế lâm thời; thống nhất lề lối, tác phong công tác theo cơ chế (bỏ cấp phòng).
Thủ trưởng Cục giảm còn 4 đồng chí gồm tôi (Khuất Duy Tiến) - Cục trưởng. Phó Cục trưởng gồm các anh: Dương Đảm, Vũ Quang Huy, Nguyễn Công Dung. Quân số toàn Cục 79 người.
Điều chỉnh, tổ chức biên chế Cục vận hành theo cơ chế mới. Tiếp tục hoàn thành kế hoạch 1986 - 1990 và bước sang kế hoạch 1991 - 1995.
Những cán bộ, nhân viên được biên chế vào các khối chuyên trách đều là những đảng viên, cán bộ nhiệt tình, hăng say công tác, tháo vát, dày dạn kinh nghiệm, sáng tạo, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có tinh thần đoàn kết và trách nhiệm.
Để xây dựng lề lối làm việc, tác phong, phương pháp công tác theo cơ chế mới, Thủ trưởng Cục giao cho mỗi đồng chíCục phó một mảng công việc và bồi dưỡng thống nhất về chức năng nhiệm vụ của Cục và chức trách chuyên môn của các bộ phận, các trợ lý chuyên trách; tạo cho mọi thành viên nắm chắc nhiệm vụ công tác của mình và nắm được nội dung công việc của bộ phận khác, sẵn sàng thay thế, bổ sung cho nhau; khi cần thiết có thể tập hợp toàn cục hoàn thành một nội dung công tác chuyên môn.
Trước mỗi đề án, nội dung lớn mang tính chiến lược. chiến dịch, dài hạn, ngắn hạn đều được thảo luận thống nhất trong nội bộ cục; sau đó Thủ trưởng Cục, cán bộ phụ trách bộ phận, trợ lý chuyên trách thâm nhập lấy ý kiến các cơ quan Bộ, ngành, quân khu, quân đoàn, quân binh chủng... thông qua trao đổi, hội thảo chắt lọc nghiêm túc, làm thí điểm trước khi báo cáo Bộ. Thường xuyên giữ vững mối quan hệ hiệp đồng với các đơn vị, cơ quan đầu ngành; hướng dẫn, giúp đỡ bồi dưỡng nghiệp vụ cho ngành dọc.
Kết quả, qua 2 năm (1990-1991) vận hành cơ chế mới, Cục đã lần lượt hoàn thành các nội dung của kế hoạch giảm quân số điều chỉnh biên chế, tổ chức lực lượng vũ trang thời kỳ đổi mới.
Tiếp tục thực hiện phương hướng giảm quân số, chấn chỉnh tổ chức theo Quyết định của Bộ Quốc phòng, trong năm 1989 đã giải thể 12 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn, 3 trung đoàn, 1 tiểu đoàn thuộc các quân khu, quân đoàn, tổng cục. Tổ chức mới và giao thêm nhiệm vụ cho các trung tâm, nhà máy sản xuất quốc phòng gắn với kinh tế; thành lập các công ty, tổng công ty hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
Thực hiện kế hoạch bảo đảm trang bị của Bộ Quốc phòng theo phương hướng: Phát huy tinh thần tự lực, tận dụng mọi tiềm năng trang bị kỹ thuật hiện có và khả năng bảo đảm của Nhà nước; từng bước cân đối đồng bộ tổ chức biên chế và trang bị kỹ thuật trước hết cho các đơn vị chủ yếu và trang bị kỹ thuật chủ yếu.
Căn cứ chủ trương trên, đã tập trung ưu tiên kiện toàn biên chế trang bị cho các đơn vị đang làm nhiệm vụ ở biên giới. hải đảo, bảo đảm một bước cho các đơn vị dự bị động viên, kết hợp chỉ đạo tập trung các loại vũ khí, trang bị thu hồi từ các đơn vị giải thể đưa vào kho những loại còn sử dụng tốt, tổ chức niêm cất, thanh lý các loại không còn sử dụng được.
Đồng thời chỉ đạo sửa chữa và sản xuất quốc phòng, tập trung mũi nhọn vào những chủng loại vũ khí trang bị quân đội đang cần mà ta có thể đảm đương được. Do đó công tác trang bị từng bước đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và sẵn sàng động viên trong tình huống cần thiết.
Thông qua thực hiện giảm quân số, chấn chỉnh biên chế tổ chức, bộ phận chính sách kết hợp với nhóm thông tin tư liệu bước đầu đã khai thác tập hợp từ 1945 - 1991 được 660.000 liệt sĩ đăng ký qua máy tính điện tử, phân cấp quản lý qua các địa phương, tạo điều kiện cho khâu giải quyết chính sách.
Từng bước vượt qua trở ngại, bỡ ngỡ ban đầu (việc nhiều người ít, rồi bận, sốt việc...) thông qua các buổi giao ban, chấn chỉnh, họp rút kinh nghiệm đã chuyển Cục thành bộ máy thuần nhất, vận hành nhịp nhàng ăn khớp, năng động, hiệu quả, nội bộ đoàn kết, nhất trí cao, phấn khởi, tin tưởng; tạo đà tiến vào thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng VII.
Thực hiện nghị quyết Đảng ủy Quân sự Trung ương về tiếp tục điều chỉnh lực lượng và thế bố trí chiến lược - kế hoạch tổ chức lực lượng 1991-1995. Từ đó, xác định phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang là: "Tiếp tục giảm quân số thường trực, tăng cường xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ, thực hiện một sự cân đối mới giữa ba thứ quân, kết hợp xây dựng quân đội về chính trị, quân sự và chính quy; sắp xếp lại hệ thống nhà trường theo hướng đại học hóa đội ngũ sĩ quan và nhân viên kỹ thuật, nâng cao một bước chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Bảo đảm trang bị kỹ thuật theo hướng bảo quản và sử dụng những cái đã có; đồng thời cải tiến, mua sắm, hiện đại hóa một số phương tiện vũ khí thật cần thiết. Đổi mới một số chính sách đối với quân đội cho phù hợp với thời bình và kinh tế thị trường, năng cao một bước đời sống tinh thần và vật chất của bộ đội".
Căn cứ vào phương hướng và đặc điểm tình hình cụ thể, Cục Quân lực triển khai có hiệu quả từng mặt công tác lớn. Trong thời gian từ 1991-1994 trên cơ sở chuẩn bị của Cục Quân lực và các cơ quan liên quan; bước đầu soạn thảo ban hành chức danh các khối chiến đấu. Đây là một cố gắng lớn tuy còn một số chi tiết, nội dung đã ban hành chưa thật chuẩn xác, cần phải hoàn chỉnh thêm.
Do tổng quân số đã giảm tới mức tương đối ổn định, Nhà nước ban hành chính sách mới đối với quân nhân chuyên nghiệp và công nhân viên quốc phòng; đồng thời cải cách chế độ tiền lương, nên số lượng, chất lượng hạ sĩ quan chỉ huy và nhân viên chuyên môn kỹ thuật ngày một tốt hơn. Để đảm bảo chất lượng đào tạo, Bộ Quốc phòng đã bổ sung một số tiêu chuẩn về chiêu sinh, thực hiện chế độ tuyển sinh, xác định bậc học, cấp học theo quy chế đào tạo của Nhà nước; cải tiến nội dung chương trình và thời gian đào tạo trên từng cấp học, ngành học (đòi hỏi phải soạn thảo thống nhất, đồng bộ chức danh trần quân hàm hơn chức vụ trong toàn quân). Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1991, dưới sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu Cục Quân lực chủ trì cùng với Cục Huấn luyện chiến đấu tổ chức nghiên cứu thực nghiệm sư đoàn bộ binh mang vác các loại vũ khí, trang bị, vật chất trong biên chế của từng loại phân đội, từng cá nhân hành quân từ vị trí tập kết đến tuyến triển khai chiến đấu; điều chỉnh hợp lý số quân theo biên chế, bảo đảm đủ sức mang vác hết cơ số đạn dược và lượng vật chất quy định.
Qua thời gian thực nghiệm tại Sư đoàn 325 Quân đoàn 2 đạt kết quả tốt. Trong hội nghị tổng kết, đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng Đỗ Văn Đức kết luận: "Cuộc thực nghiệm đạt kết quả rất tốt, dựa vào thực nghiệm đã xác định được quân số trang bị cho từng loại phân đội của sư đoàn bộ binh mang vác phù hợp với các loại trang bị hiện có với tầm vóc người Việt Nam". Cục Quân lực hoàn thiện biểu biên chế "sư đoàn bộ binh mang vác" trình Bộ Tổng tham mưu ban hành gồm: sư đoàn bộ binh mang vác thời bình, sư đoàn bộ binh mang vác thời chiến.
Ngày 3 tháng 12 năm 1991, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 495/QĐ-QP ban hành "Chế độ quản lý trang bị kỹ thuật". Đây là văn bản do Cục Quân lực cùng các cơ quan chức năng của Tổng cục Kỹ thuật soạn thảo gồm 11 Chương 63 Điều: bổ sung hoàn thiện nhiều nội dung từ việc nghiên cứu cải tiến, thiết kế chế tạo, mua sắm, sản xuất chuyển ra khỏi biên chế và dự trữ, là văn bản thiết yếu giúp người chỉ huy, cơ quan và đơn vị thực hiện quản lý vũ khí, trang bị kỹ thuật ngày một chặt chẽ hơn. Lập kế hoạch động viên là một trong nội dung thiết yếu của công tác động viên quân đội. Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hành kế hoạch động viên, năm 1990, được sự chỉ đạo của Bộ chuyển đổi phương thức từ "các địa phương giao nguồn cho đơn vị thường trực tiếp nhận tự xếp sắp biên chế sang phương thức các địa phương, Bộ, ngành tổ chức xây dựng sắp xếp đơn vị theo biểu biên chế (tròn khâu), chuyển giao cho đơn vị thường trực khi có lệnh". Phương thức này được áp dụng từ năm 1992, qua thực tế cho thấy đã rút ngắn được thời gian bàn giao và hoàn thiện biên chế đơn vị nhanh, sát với thực tế, giúp cho đơn vị thường trực nhận quân và điều chỉnh đơn vị nhanh, thuận lợi (làm cơ sở để xây dựng Pháp lệnh về Lực lượng dự bị động viên năm 1993).
Dưới sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu, Cục Quân lực tập trung những cán bộ có năng lực và hiệp đồng chặt chẽ với các cơ quan chức năng các tổng cục và ban ngành Nhà nước thực hiện thành công: "Dự thảo Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi bổ sung và Pháp lệnh về Lực lượng dự bị động viên". Được Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua là một công trình thiết yếu, là căn cứ cơ bản thực hiện nhiệm vụ, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và nến quốc phòng toàn dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Từ cuối năm 1991 đến cuối năm 1993, Cục Quân lực chủ trì cùng các cơ quan chức năng như: Cục Cán bộ, Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị, Cục Tài chính và cơ quan, các đơn vị liên quan xây dựng thống nhất ban hành chức danh, trần quân hàm, nhóm chức vụ trong toàn quân từ khối cơ quan Bộ, quân khu, quân đoàn, quân binh chủng đến các khối nghiên cứu khoa học, học viện, nhà trường, xí nghiệp, kho, trạm: làm căn cứ cho công tác lãnh đạo quản lý sắp xếp, bố trí, khai thác sử dụng cán bộ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật vào nền nếp chặt chẽ.
Căn cứ vào quyết định của Bộ, Cục Quân lực đã tiến hành chấn chỉnh tổ chức, sáp nhập điều chuyển, kiện toàn 62 đầu mỗi đơn vị, giải thể các tổ chức đơn vị dư thừa do nhu cầu nhiệm vụ; chuyển đổi cơ cấu tổ chức 34 đầu mối từ cấp tiểu đoàn, trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn và tương đương, thành lập 100 đầu mỗi đơn vị đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và tình hình chuyển đổi chung của Nhà nước.
Sau 3 năm thực hiện kế hoạch điều chỉnh tổ chức lực lượng dần hình thành rõ nét trong thực tế cơ cấu về quy mô lực lượng, cơ cấu tổ chức biên chế trang bị kỹ thuật giữa các khối (chiến đấu, bảo đảm, phục vụ, cơ quan và nhà trường) giữa lực lượng chủ lực và địa phương: giữa bộ đội thường trực và dự bị động viên... đáp ứng 5 tình huống chiến lược, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố thế trận chiến tranh nhân dân. Bảo đảm cho nhiệm vụ huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, nâng cao chất lượng chiến đấu theo hướng "xây dựng quân đội thường trực cách mạng -chính quy tinh nhuệ - từng bước hiện đại, xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp có chất lượng chính trị cao, có tổ chức phù hợp và chặt chẽ".
Đầu tháng 3 năm 1994, các bộ phận chuyên trách, các sĩ quan đảm nhiệm các hướng, các đầu mối đơn vị đang theo dõi tổng hợp kết quả công tác thời kỳ 1990-1995 dự thảo nội dung kế hoạch 5 năm 1996-2000 và thực hành biên soạn nội dung tổng kết 5 năm Cục Quân lực vận hành theo cơ chế mới. Không khí làm việc trong toàn Cục hăng say, đoàn kết phấn khởi.
Vào đầu giờ làm việc buổi chiều, Tổng Tham mưu trưởng Đào Đình Luyện gặp thông báo quyết định cử tôi về đảm nhiệm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1. Sau mấy giây ban đầu tiếp nhận thông tin, tôi lập tức định hướng được đoạn đường đi tới là đoạn đường bằng phẳng sáng đẹp: Về Trường Lục quân là mang khối kiến thức đã tích lũy mấy chục năm quân ngũ từ binh nhì đến Tư lệnh quân đoàn trao lại một cách có chọn lọc cho thế hệ thanh niên kế tiếp khai thác, thu lượm đưa vào nội dung chương trình đào tạo sĩ quan tương lai cho đất nước.
Trước cử chỉ thân tình và lời nói chậm rãi mạch lạc ấm áp, trong không khí đồng cảm anh em anh Đào Đình Luyện hỏi:
- Từ lâu tôi với anh đã hiểu nhau, coi nhau như anh em, anh về Trường Sĩ quan Lục quân có vướng mắc gì không?!
Tôi thản nhiên thưa:
- Không! Tôi được về đảm nhiệm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân là được trở lại cái nôi cách đây 40 năm đã đào luyện tôi trở thành một sĩ quan cao cấp của quân đội. Đó là đoạn đường đi tốt lành - là sự tri ân nơi đã đào luyện giáo dục tư chất người sĩ quan ban đầu cho tôi và là nơi tôi phải cống hiến hết sức mình, cùng những kinh nghiệm, kiến thức đã đúc kết được trên chiến trường qua 40 trải nghiệm cống hiến cho nhà trường - Đó cũng là đạo lý, là nghĩa cử là của một quân nhân.
Anh nhìn tôi trìu mến qua đôi mắt đồng cảm thân thương và nói tiếp như đã thông:
- Đế án quy hoạch hệ thống nhà trường trong đó có Trường Sĩ quan Lục quân được cậu về vận dụng, tôi cho là hợp lý. Cần làm ngay, làm mạnh dạn; nhớ luôn điện trao đổi kết quả với mình.
Tôi bàn giao chức trách Cục trưởng cho đồng chí Thiếu tướng Dương Đàm là Phó Cục trưởng đảm nhiệm khối tổ chức lại là Bí thư Đảng ủy Cục nên rất nhanh gọn, phấn chấn!
Buổi liên hoan chia tay - đó là cuộc sinh hoạt đặc biệt tất cả cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên. Cũng là một bữa tiệc thịnh soạn của Cục trưởng mới Dương Đàm và toàn thể anh em dành cho tôi như để biểu lộ sự chia tay đẩy tình nghĩa, thân thiết và những dấu ấn đọng mãi trong tim tôi cho đến hôm nay tôi xin ghi lại. Đó là những cái bắt tay thật chặt, nóng hổi lắc đi lắc lại không muốn rời, những bàn tay run run rồi lỏng dần qua nét mặt quyến luyến xúc động, những ánh nhìn với đôi mắt sáng đầy sức sống cùng vòng tay giang rộng ôm chặt đến nghẹn thở, những nụ cười thật tươi, thật thân thiện cùng lời tạm biệt ngọt ngào, lời chúc khỏe mạnh làm thật tốt chức vụ mới, nhớ về thăm Cục, thăm anh em; giữ mối quan hệ Nhà trường và Cục thật tốt đẹp!
Qua 4 năm (3-19893-1994): 1.480 ngày cùng nhau góp sức, góp trí tuệ cải tiến lề lối, tác phong công tác, thực hiện chức năng nhiệm vụ của Cục vận hành theo cơ chế mới, chúng ta đã vượt qua mọi trở ngại lần lượt hoàn thành các nhiệm vụ dạt chất lượng hiệu quả; trên chặng dường sát cánh kế vai, gừng cay, muối mặn, ngọt bùi ấm lạnh có nhau. Đã kết thành mỗi tình thủy chung trong sáng đẹp đẽ - tình đồng chí anh em. Xin giữ lấy những kỷ niệm đẹp về tình đồng chí, đồng đội!
Tôi từ Cục Quân lực về Trường Sĩ quan Lục quân 1 vào cuối tháng 3 năm 1994. Người tiếp tôi đầu tiên là anh Trần Tất Thanh Thiếu tướng, Phó Hiệu trưởng về quân sự nguyên là Tư lệnh Quân đoàn 3 và anh Lương Văn Cửu - Đại tá, Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng về chính trị nguyên là Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn 2. Tôi và anh Thanh đã từng gắn bó với nhau từ chiến trường Tây Nguyên những năm chiến tranh và thời kỳ xây dựng Quân đoàn 3 đến đầu 1989 mới tạm chia tay nay lại cùng nhau về xây dựng Trường Sĩ quan Lục quân - mối duyên thiên định đẹp thay! Riêng với anh Cửu từ cái bắt tay thật chặt, nét mặt hồ hởi cùng lời nói đầu tiên: "Bọn tôi được thông báo trước gần một tháng, nay anh về rất kịp thời đón Nghị quyết 93 Đảng ủy Quân sự Trung ương. Còn anh Ân đang bị tai biến nhẹ phải điều trị ở Viện Quân y 108 có lẽ còn một thời gian nữa mới ra viện được!".
Tiếp đến, anh giới thiệu tóm lược về tình hình nhiệm vụ; tổ chức biên chế, kết quả thực hiện Nghị quyết số 115 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương và một số nội dung chính chuẩn bị cho năm học 1994-1995 và đưa cho tôi tập tài liệu về các nghị quyết của Đảng, kế hoạch công tác huấn luyện đào tạo của Trường Sĩ quan Lục quân. Qua nét mặt cương nghị, giọng nói trầm ấm áp, thái độ bình tĩnh, thuyết trình gọn rõ, đôi mắt sáng, thân thiện, anh nhấn mạnh những nội dung chính, những việc phải làm ngay chứng tỏ anh nắm rất chắc nhiệm vụ và kế hoạch xây dựng nhà trường.
Cuộc gặp đầu tiên gây cho tôi ấn tượng đẹp - đó là tôi sẽ có một chính ủy tin cậy.
Nhân hội nghị bàn giao, anh Cửu, anh Thanh giới thiệu tôi làm quen với các cán bộ đầu ngành toàn trường và thông báo lịch tiếp xúc của hiệu trưởng mới với các đơn vị.
Xếp sắp thời gian, tôi làm việc với các phòng chức năng, các khoa giáo viên, các tiểu đoàn quản lý học viên, tiểu đoàn phục vụ huấn luyện tìm hiểu chức trách nhiệm vụ, nội dung công tác, đội ngũ cán bộ, nhân viên được biên chế... Tôi tham dự các buổi hội thảo khoa học, các buổi giảng thử của giáo viên trên giảng đường, đến các bãi tập, thao trường xem dự giờ giảng của giáo viên và tiếp thu của học viên về chiến thuật, kỹ thuật bộ binh, binh chủng, điều lệnh thể dục, thể thao cũng như một số bài về chính trị... Đồng thời tôi tranh thủ đọc các loại văn kiện của Đảng và chính quyền nói về nhiệm vụ công tác của nhà trường; cùng Ban quản lý công trình và Phòng Hậu cần kiểm tra kế hoạch, tiến độ thi công và chất lượng các loại công trình đã và đang xây dựng trên năm hạng mục được Bộ Quốc phòng đầu tư trong hai giai đoạn (1991-1996 và 1997-2000) gồm: khu nhà ở cho cán bộ, giáo viên, học viên; giảng đường, phòng học; kho tàng; trạm xá quân y; công trình văn hóa và hệ thống thao trường bãi tập theo yêu cầu mới; công tác bảo đảm đời sống của cơ quan hậu cần nhà trường.
Do có thời gian tiếp xúc với các đối tượng sâu, kỹ, lại được anh Thanh, anh Cửu hướng dẫn, thuyết trình rõ ràng nên những nội dung chính tôi hiểu sâu, nắm tương đối chắc. Do vậy khi anh Nguyễn Ân đi chữa bệnh về, công tác bàn giao được tiến hành rất nhanh gọn!
Sau hội nghị bàn giao nhiệm vụ giữa đồng chí Trung tướng Nguyễn Ân và tôi, Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Chúng tôi tổ chức quán triệt và thực hiện Nghị quyết 93 của Đảng ủy Quân sự Trung ương với nội dung cơ bản đó là: Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và xây dựng nhà trường chính quy nhằm mục tiêu đại học hóa trình độ học vấn của đội ngũ sĩ quan và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ nhân viên chuyên môn kỹ thuật làm cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao. Thực hiện sự chuyển tiếp với thế hệ cán bộ, đáp ứng vững chắc nhu cầu về chất lượng và số lượng cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật các cấp, các ngành... làm nòng cốt xây dựng quân đội nhân dân theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Để thực hiện theo phương hướng trên, Đảng ủy Quân sự Trung ương đã xác định những chủ trương lớn về hoàn thiện chương trình đào tạo, tiếp tục chấn chỉnh hệ thống nhà trường, đẩy mạnh xây dựng nhà trường chính quy, từng bước hiện đại; tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo; kiện toàn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục; nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác tạo nguồn, mở rộng liên kết với các trường quân đội, đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất đào tạo...
Đối với nhà trường từ năm học 1994-1995 trở đi, thực hiện chuyển đồi bậc đào tạo từ đào tạo sĩ quan 3 năm sang đào tạo hệ cao đẳng quân sự thời gian 4 năm và chuẩn bị mọi mặt để từ năm 1996 (theo kế hoạch) chuyển sang đào tạo đại học.
Theo sự chỉ đạo của Bộ từ khóa 59-60-61, Nhà trường đào tạo chương trình cao đẳng quân sự thời gian 4 năm. Các khóa đào tạo thống nhất được đào tạo theo chương trình đại học đại cương thời gian một năm rưỡi, sau đó về các trường đào tạo chuyên ngành hai năm rưỡi. Đồng thời nhà trường tiến hành tổ chức học tại chức để có mặt bằng kiến thức đại học cho đội ngũ cán bộ, giảng viên toàn trường.
Về tổ chức biên chế nhà trường gồm.
- Ban giám hiệu gồm tôi (Khuất Duy Tiến) - Hiệu trưởng.
- Bí thư Đảng ủy - Phó Hiệu trưởng chính trị: anh Lương Văn Cửu.
- Phó Hiệu trưởng quân sự: các anh Nguyễn Khắc Viện, Đại tá Nguyễn Hữu Mão.
Sáu phòng chức năng: Huấn luyện, Chính trị, Khoa học công nghệ và môi trường, Kỹ thuật, Hậu cần, Hành chính. Hai ban: (Ban quản lý công trình và Ban tài chính). 8 khoa giáo viên: Chiến thuật, Khoa học xã hội, Trinh sát, Bắn súng, Binh chủng, Quân sự chung, Thể thao, Cơ bản, Ngoại ngữ và 2 khoa biệt phái (Giáo dục quốc phòng - Đại học Sư phạm ngoại ngữ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).
- 11 tiểu đoàn gồm: 1, 4, 5, 6, 7 đào tạo dài hạn, các tiểu đoàn 3, 8, 11, 12 quản lý học viên đào tạo những vấn đề cơ bản của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội của 10 trường sĩ quan, học viện phía Bắc. Tiểu đoàn 9 quản lý học viên quốc tế. Tiểu đoàn 10 quản lý hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ công tác huấn luyện của nhà trường.
Quản lý chặt chẽ, tiếp tục hoàn thành xây dựng cơ bản và các mặt bảo đảm phương tiện dạy và học cần thiết nhằm đưa Trường Sĩ quan Lục quân 1 có cơ sở vật chất tương đồi khang trang, môi trường chính quy lành mạnh với vị trí trung tâm đào tạo sĩ quan binh chủng hợp thành cấp phân đội ở khu vực phía Bắc.
Dưới sự chỉ đạo thống nhất của Bộ Quốc phòng và Bộ Giáo dục và Đào tạo, chương trình nội dung giáo dục - đào tạo chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn một đào tạo kiến thức đại học đại cương; giai đoạn hai đào tạo đại học chuyên ngành. Các nội dung kiến thức đại học đại cương một mặt phải thể hiện sự hòa nhập với hệ thống giáo dục đại học quốc gia, đồng thời phải phù hợp với mục tiêu đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội của nhà trường. Phần kiến thức các môn khoa học xã hội - nhân văn nhất thiết phải do Tổng cục Chính trị chỉ đạo nội dung và do giảng viên chính trị nhà trường đảm nhiệm. Các bộ môn kiến thức cơ bản trong chương trình kiến thức đại học đại cương, nhà trường thực hiện liên kết đào tạo với Viện Đại học mở, Đại học Quốc gia Hà Nội; do Viện Đại học mở cấp chứng chỉ. Chương trình nội dung chuyên ngành với thời gian 2 năm rưỡi sẽ được nghiên cứu và cụ thể hóa do nhà trường tổ chức đào tạo.
Đầu năm học 1994-1995 nhà trường xác định nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, chuẩn bị đầy đủ các yếu tố và có kế hoạch bồi dưỡng tại chức để nâng cao trình độ đại học cho đội ngũ cán bộ, giảng viên nhà trường kết hợp với việc gửi đi học ở các trường, phấn đấu trong hai năm đạt tỷ lệ 60% cán bộ giảng viên có trình độ đại học.
Phát huy kết quả đạt được của năm học, toàn trường tập trung vào lãnh đạo, tổ chức thực hiện kế hoạch xây dựng nền nếp chính quy trong từng giai đoạn với mục tiêu từ thấp đến cao, quy định trách nhiệm, chỉ đạo xây dựng điển hình và nhân điển hình: kết hợp xây dựng nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật với xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh: xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện... toàn trường đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Tháng 6-1995 nhà trường quyết định tái thành lập Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 9. Tháng 7 năm 1996 nhà trường ra quyết định tách khoa Khoa học xã hội thành khoa Lý luận Mác-Lênin và khoa Công tác đảng, công tác chính trị.
Nâng cao trình độ học vấn cho đội ngũ cán bộ là vấn đề có ý nghĩa then chốt để nhà trường đảm đương được nhiệm vụ đào tạo bậc đại học. Nhà trường đã thực hiện liên kết với Viện Đại học mở, Đại học Quốc gia Hà Nội mở các lớp đào tạo đại học đại cương. Ngày 20 tháng 10 năm 1994 khai giảng khóa 1 gồm 175 học viên; ngày 25 tháng 10 năm 1995 khai giảng khóa 2 gồm 170 học viên. Cùng với việc mở lớp đào tạo chứng chỉ đại học đại cương nhà trường còn cử hàng chục cán bộ đi hoàn thiện đại học ở các học viện, các cơ sở đào tạo đại học trong và ngoài quân đội. Được sự giúp đỡ của Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, Học viện Chính trị quân sự và Học viện Quốc phòng, nhà trường đã mở các lớp bồi dưỡng kiến thức các môn triết học, phương pháp luận nghiên cứu khoa học và phương pháp giảng dạy đại học, các lớp học ngoại ngữ để cấp chứng chỉ cho đội ngũ giáo viên (để giúp nhà trường quản lý, chỉ đạo học tại chức của cán bộ - Ban quản lý cán bộ học tại chức được thành lập trực thuộc Phòng Đào tạo).
Sau hai năm tích cực chuẩn bị, từ năm 1996 trở đi, nhà trường đã cử hàng chục cán bộ, giảng viên đi đào tạo cao học, nghiên cứu sinh, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Từ năm học 1995-1996 theo chỉ thị của Tổng cục Chính trị, để thực hiện một bước hòa nhập với hệ thống giáo dục quốc gia, chương trình nội dung các môn khoa học xã hội và nhân văn được xây dựng trong đó có nhiều bộ môn mới chưa được nghiên cứu giảng dạy trong các nhà trường quân đội như: Chính trị học, xã hội học, các nguyên lý kinh tế, tâm lý giáo dục đại cương, lịch sử triết học, lịch sử tư tưởng kinh tế... Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh được Tổng cục Chính trị chỉ đạo đưa vào giảng dạy. Chương trình nội dung trên là khó khăn không nhỏ đối với đội ngũ giảng viên của nhà trường. Mặt khác do cùng một thời gian triển khai nhiều lớp đại học đại cương cho học viên của nhà trường và 10 trường trong quân đội, số lượng học viên có lúc trên 3.000 người. Vì vậy, đội ngũ giảng viên nhất là giáo viên chính trị không đủ lực lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Để khắc phục khó khăn đó, Ban giám hiệu, cơ quan uan chính trị, Đảng ủy và các chi bộ khoa học xã hội đã kịp thời huy động mọi người nêu cao ý thức trách nhiệm, nỗ lực cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Về mặt tổ chức, Ban giám hiệu nhà trường cử giảng viên đi dự lớp tập huấn ngắn hạn về các bộ môn do Tổng cục Chính trị mở; mặt khác liên hệ với các trường đại học ngoài quân đội để nghiên cứu chương trình, nội dung, tài liệu giảng dạy. Đảng ủy và chỉ huy các khoa chủ động sắp xếp hợp lý khâu tự nghiên cứu, tự học, tổ chức lại lực lượng giảng viên các môn. Thực hiện chủ trương của Bộ, khoa Khoa học xã hội đã chủ động liên hệ hiệp đồng với các học viện, trường sĩ quan khu vực phía Bắc cử giáo viên đến Trường Sĩ quan Lục quân 1 tham gia giảng dạy và phối hợp chặt chẽ với cơ quan giáo vụ triển khai chương trình giảng dạy hợp lý...
Có thể nói trong lịch sử giảng dạy các môn khoa học xã hội - nhân văn của nhà trường chưa bao giờ phải triển khai các nội dung và thời gian giảng dạy nhiều như vậy. Song nhờ làm tốt công tác tư tưởng và tổ chức thực hiện khoa học nên nhà trường đã từng bước giải quyết sự thiếu hụt đội ngũ giảng viên, giữ vững định hướng chính trị và bảo đảm chất lượng dạy học.
Đối với các môn toán, lý, hóa, tin học, ngoại ngữ, thời gian đầu nhà trường liên kết với Viện Đại học mở bảo đảm đủ giáo viên giảng dạy. Đồng thời nhà trường chủ trương củng cố tổ chức khoa cơ bản ngoại ngữ; xin trên bổ sung đội ngũ giảng viên; cử người đi đào tạo sau đại học, lấy bằng tiếng Anh... tổ chức chỉ đạo bám lớp, rút kinh nghiệm tại chỗ.
Nhờ sự chỉ đạo đúng đắn của Ban giám hiệu nhà trường, sự phấn đấu vươn lên của đội ngũ giảng viên, từng bước nhà trường chúng tôi đã đáp ứng được nhiệm vụ dạy và học.
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giáo dục - huấn luyện trong giai đoạn đào tạo chuyên ngành, Thường vụ Đảng ủy -Ban giám hiệu chỉ đạo chặt chẽ về xây dựng chương trình, nội dung đào tạo về chuyên ngành, bảo đảm tính khoa học, tính thực tiễn cao; trên cơ sở bám sát mục tiêu yêu cầu đào tạo, các khối kiến thức cơ sở và chuyên ngành bước đầu bố trítương đối hợp lý. Đối với chương trình nội dung đào tạo chuyên ngành tuy không hoàn toàn mới nhưng đây là lần đầu tiên được thiết kế theo chương trình, nội dung đào tạo đại học. Vì vậy nhà trường chủ trương trong quá trình tổ chức giảng dạy, có thể và cần phải tiếp tục bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu yêu cầu - đào tạo bảo đảm tính cơ bản, hệ thống, thống nhất, chuyên sâu.
Quán triệt Nghị quyết 93 của Đảng ủy Quân sự Trung ương; xuất phát từ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Trường Sĩ quan Lục quân 1; nhận thức vị trí tầm quan trọng về phương hướng mục tiêu đào tạo sĩ quan thế kỷ XXI phải có học vấn đại học, trên đại học và khả năng về kiến thức quân sự, hiểu biết tỉnh thông nghệ thuật quân sự trong điều kiện chiến tranh mới; khai thác, quản lý sử dụng các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại có hiệu quả; có trình độ tổ chức, chỉ huy. quản lý, lãnh đạo những quân nhân thuộc quyền có giác ngộ chính trị cao, có trình độ văn hóa, kiến thức quân sự tiên tiến: nhằm xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại; bảo vệ công cuộc xây dựng đất nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Đảng ủy Ban giám hiệu quyết định thành lập Ban biên tập do tôi (Khuất Duy Tiến) làm Trưởng ban, đồng chíTrưởng (phó) phòng các phòng: Đào tạo, Khoa học, Chính trị, Kỹ thuật, Hậu cần, Hành chính và Trưởng (phó) khoa Chiến thuật, Bắn súng, Binh chủng, Quân sự chung, Khoa học xã hội, Trinh sát, Cơ bản ngoại ngữ; cùng các ban: Kế hoạch huấn luyện, Tuyển sinh, Cán bộ, Quân lực. Ban biên tập thực hiện nhiệm vụ biên soạn đề tài cấp Bộ về: "Tạo nguồn, tuyển chọn, tổ chức quá trình đào tạo đại học quân sự sĩ quan lục quân cấp phân đội". Đề tài để cập những vấn đề có tính nguyên tắc về phương pháp tổ chức, quản lý, điều hành theo quy trình hình thành nhân cách sĩ quan nhằm nâng cao chất lượng đào tạo sĩ quan lục quân. Từ đó xác định những giải pháp cơ bản trong thực hiện tạo nguồn nâng cao chất lượng đào tạo. Đề tài đã được Hội đồng khoa học Bộ Quốc phòng đánh giá nghiệm thu đạt kết quả xuất sắc.
Đồng thời khâu bảo đảm vật chất huấn luyện có bước phát triển; hệ thống giảng đường được xây dựng mới và trang bị tương đối hiện đại, từng bước đáp ứng yêu cầu dạy học các môn ngoại ngữ, tin học. Thư viện nhà trường được củng cố nâng cấp về tổ chức biên chế, và đầu tư cơ sở vật chất các loại tài liệu, đầu sách nghiên cứu, hệ thống tài liệu các bộ môn khoa học cơ bản bảo đảm 2 học viên/1 bộ tài liệu. Nhờ quản lý lãnh đạo chặt chẽ và đầu tư kinh phí đúng hướng, tiết kiệm hợp lý, hiệu quả, từ năm 1995 được sự tăng cường đầu tư của trên, cơ sở vật chất, vũ khí trang bị kỹ thuật của nhà trường từng bước được nâng cấp và trang bị mới phục vụ huấn luyện và sinh hoạt của nhà trường; cùng với một số sáng kiến cải tiến kỹ thuật được ứng dụng trực tiếp cho huấn luyện như máy ép thuốc nổ, hệ thống đèn chiếu sáng... góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện.
Do chuẩn bị đầy đủ mọi mặt của nhà trường từ khâu tạo nguồn, tuyển chọn đến sắp xếp nội dung, chương trình đến đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất dạy và học, ngày 11 tháng 7 năm 1995 Bộ Giáo dục và Đào tạo ra quyết định công nhận trình độ đào tạo cao đẳng cho Trường Sĩ quan Lục quân 1.
Ngày 11 tháng 9 năm 1995, đại biểu cơ quan Bộ Quốc phòng và Bộ Giáo dục và Đào tạo về dự khai giảng khóa 62 -khóa cử nhân quân sự đầu tiên của Trường Sĩ quan Lục quân 1.
Mục tiêu đào tạo khóa 62 được xác định: "Đào tạo những hạ sĩ quan đã tốt nghiệp tiểu đội trưởng và tương đương có đủ tiêu chuẩn trở thành sĩ quan chỉ huy phân đội bộ binh, bộ binh cơ giới, trinh sát và hỏa khí; có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất, đạo đức trong sáng, có kiến thức đại học quân sự, có năng lực toàn diện trong lãnh đạo chỉ huy, huấn luyện, quản lý bộ đội, sức khỏe tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Học viên tốt nghiệp đảm nhiệm chức vụ ban đầu là trung đội trưởng, phát triển lên đại đội trưởng, tiểu đoàn phó và các chức vụ tương đương, có tiềm năng phát triển lâu dài".
Nhà trường lãnh đạo chặt chẽ nhiệm vụ giáo dục - huấn luyện; đồng thời đẩy mạnh công tác tư tưởng, văn hóa - xã hội, môi trường văn hóa, môi trường giáo dục lành mạnh, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho người học. Động viên kịp thời cán bộ, giảng viên, học viên phát huy trách nhiệm, vượt qua khó khăn nâng cao chất lượng giáo dục, huấn luyện.
Tăng cường công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên, năm 1995 Đảng ủy nhà trường ra nghị quyết về "Quy trình phát triển Đảng ở Trường Sĩ quan Lục quân 1" với đề tài cấp Bộ: "Phát triển và bồi dưỡng nâng cao chất lượng đảng viên trong quá trình đào tạo cán bộ ở các trường sĩ quan quân đội" được Hội đồng khoa học Tổng cục Chính trị đánh giá nghiệm thu đạt kết quả khá. Qua tổng kết phát triển đảng viên của Trường Sĩ quan Lục quân 1 từ 1986-1997 đã kết nạp được 3.916 đảng viên...
Tháng 4 năm 1996 Đại hội Đảng bộ nhà trường nhiệm kỳ XII (1996-2000) đã xác định 5 nhiệm vụ chủ yếu của nhà trường:
1. Đào tạo sĩ quan phân đội có trình độ học vấn đại học từ 1997 đào tạo hoàn thiện tiểu đoàn trưởng, đồng thời hoàn thành tốt các khóa đào tạo cao đẳng, đào tạo giáo viên quân sự, đào tạo cán bộ cho bạn Lào.
2. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ giảng viên đủ về số lượng, có chất lượng đáp ứng nhiệm vụ phát triển mới, trọng tâm là nâng cao trình độ học vấn đại học và trên đại học.
3. Xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ đào tạo cán bộ và xây dựng nhà trường vững mạnh toàn diện.
4. Hoàn thành tốt công tác xây dựng cơ bản theo kế hoạch là nhiệm vụ chính trị quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ và thực hiện nhiệm vụ trọng tâm.
5. Xây dựng nhà trường vững mạnh toàn diện, trở thành trận địa vững chắc để phòng, chống có hiệu quả chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng nhà trường chính quy, phấn đấu nhà trường đi trước đơn vị một bước và làm mẫu cho đơn vị xây dựng chính quy, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ đột xuất trên giao.
Mục tiêu phấn đấu là:
- Khẩn trương hoàn thành quy trình đào tạo sĩ quan cấp phân đội có trình độ học vấn đại học, chuẩn bị mọi mặt để năm 1997 triển khai: hoàn thiện khóa tiểu đoàn trưởng. Kết thúc thắng lợi các khóa học 59, 60, 61, 62, sĩ quan ra trường có phẩm chất, năng lực toàn diện, làm tốt chức vụ ban đầu. Phấn đấu 60% tốt nghiệp loại khá; 1-2% tốt nghiệp loại giỏi.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên đủ số lượng theo biên chế, có dự trữ; phấn đấu đến năm 1998 có từ 70% trở lên cán bộ, giảng viên có trình độ đại học; 10-12% đạt trình độ trên đại học.
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng trong huấn luyện nhằm nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo cán bộ. Đưa hoạt động thi giáo viên giỏi, cán bộ quản lý giỏi thành nền nếp thống nhất.
- Hàng năm có 65% trở lên Đảng bộ, chi bộ đạt trong sạch vững mạnh, 70-80% đảng viên đủ tư cách mức I, không có Đảng bộ yếu, chi bộ kém; 65% trở lên đơn vị đạt mức an toàn tuyệt đối, không có đơn vị mất an toàn, giảm tỷ lệ vi phạm kỷ luật phải xử lý xuống dưới 1%, hạn chế đến mức thấp nhất kỷ luật nghiêm trọng, cán bộ chủ trì không vi phạm kỷ luật.
- Thường xuyên ổn định và từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội.
- Hoàn thành xây dựng cơ bản theo đúng kế hoạch, đạt chất lượng, hiệu quả cao.
Trong những năm trước mắt phải kiện toàn đội ngũ giảng viên, trọng tâm là giáo viên quân sự, tiếp đến là đội ngũ cán bộ Phòng Huấn luyện, Phòng Khoa học công nghệ và môi trường. Phòng Chính trị có đủ trình độ học vấn theo yêu cầu nhiệm vụ; số còn lại của đội ngũ cán bộ từng bước giải quyết theo kế hoạch hàng năm.
Kết quả đào tạo: Từ năm 1994 đến 1997 Trường Sĩ quan Lục quân 1 đã đào tạo được 279 sĩ quan chỉ huy cấp phân đội (khóa 58) và 1.101 sĩ quan chỉ huy binh chủng hợp thành bậc cao đẳng (khóa 59 và khóa 60), 1.759 học viên đào tạo thống nhất, 16 sĩ quan trinh sát, 12 giáo viên chiến thuật, 63 học viên Quân đội nhân dân Lào anh em.
Tháng 10 năm 1997 tôi nhận quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đoàn Khuê nghỉ hưu, bàn giao vị trí Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1 cho Thiếu tướng Nguyễn Khắc Viện. Lễ bàn giao diễn ra nhanh gọn, đầy đủ các thủ tục và nội dung.
Song cuộc chia tay với tập thể Trường Sĩ quan Lục quân 1 thân yêu còn kéo dài hơn một tuần và cho tới ngày hôm nay khi tôi viết dòng hồi ức này có vẫn ẩn chứa trong lòng tôi những nét sáng - đẹp không thể phai mờ của đại gia đình Trường Sĩ quan Lục quân đã giang rộng vòng tay ôm chặt tôi; tiếp sức cho tôi, chia sẻ niềm vui cùng tôi, cổ vũ tôi vượt qua thử thách, hoàn thành nhiệm vụ mà quân đội giao cho. 1.305 ngày đêm phấn đấu hăng say để đưa đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường lên 100% bậc đại học và từng bước nâng tỷ lệ từ 5-7% đến 10-15% trên đại học, xây dựng đội ngũ giáo viên của Nhà trường có đủ trình độ tổng kết những thành tựu của các khóa đào tạo qua 50 năm phấn đấu xây dựng nhà trường Sĩ quan Lục quân 1. Tổ chức quá trình đào tạo Đại học quân sự sĩ quan lục quân cấp phân đội".
Dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương - Bộ Quốc phòng, sự lãnh đạo, quản lý chỉ huy trực tiếp của Đảng ủy - Ban giám hiệu nhà trường đã phấn đấu ngày đêm từ đồng chí chiến sĩ cảnh vệ, công vụ, lái xe, nấu ăn, phục vụ giảng đường, thao trường đến đồng chí Bí thư Đảng ủy -Chính ủy Lương Văn Cửu, Bạch Quang Triệu - Phó Hiệu trưởng Nguyễn Hữu Mão và các đồng chí cán bộ chủ chốt cùng anh em phòng, ban, khoa, tiểu đoàn...
Về đảm trách Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1 là đoạn đường cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp - là đoạn đường sáng đẹp được mang những kiến thức, kỹ năng quân sự đã trải qua 50 năm quân ngũ từ một chiến binh trở thành một Tư lệnh quân đoàn, đúc kết, sàng lọc kỹ càng, đóng góp với nhà trường đào tạo đội ngũ sĩ quan tương lai cho Tổ quốc ngàn lần yêu quý là một vinh dự, một đặc ân quân đội dành cho tôi và cũng là đền ơn trả nghĩa nhà trường lục quân đã đào tạo tôi trở thành một sĩ quan có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức chỉ huy, quản lý, lãnh đạo các quân nhân dưới quyền hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chiến đấu, xây dựng để từng bước trở thành cán bộ cao cấp ngày nay. Một điều tốt đẹp nữa ghi sâu mãi mãi trong lòng tôi là được sống 3 năm 7 tháng trong lòng đại gia đình Sĩ quan Lục quân 1 thân yêu đã hoàn thiện thêm một bước về nhân cách của một con người, để khi rời khỏi đội ngũ quân đội thấy mình vững vàng hơn, lớn hơn về phẩm giá, nhân cách của một con người sống trong thời đại Hồ Chí Minh!




Bình luận