top of page

Hồi ký "Ký ức Đời binh nghiệp". Chương 8 - BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM VÀ LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ

  • 8 thg 1
  • 72 phút đọc

Đã cập nhật: 5 thg 4

SAU khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất ước yêu cầu nhiệm vụ mới, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 điều chỉnh thế bố trí chiến lược. Các đơn vị chủ lực lui dần ra khỏi thành phố. Cơ quan Bộ Tư lệnh quân đoàn chuyển về thị xã Thủ Dầu Một, đóng quân tại Trường sĩ quan công binh của quân đội Việt Nam cộng hòa trước đây. Sư đoàn 10 đứng chân ở Phú Lợi, Sư đoàn 320 đóng quân ở căn cứ Đồng Dù...

Một hôm, anh Vũ Lăng - Tư lệnh Quân đoàn gọi tôi lên và nói:

- Tớ định đưa cậu lên làm Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh, ý cậu thế nào?

Tôi trả lời:

- Nhiệm vụ nào anh giao, tôi cũng quyết hoàn thành.

- Thế thì tốt rồi. Tớ bàn với anh Hiệp và sẽ quyết định sớm.

Một tuần sau, tôi bàn giao Trưởng phòng Tác chiến và nhậm chức Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3.

Tháng 10 năm 1977, bọn phản động Pôn-pốt tiến hành chống phá Việt Nam điên cuồng. Chúng hô hào: "Đánh Việt Nam đến người Khơ-me cuối cùng". Chúng ồ ạt xua quân vượt biên giới tấn công lấn chiếm lãnh thổ nước ta.

Tại Kiên Giang, chúng đưa 2 trung đoàn tiến đánh thị trấn Hà Tiên. Cùng lúc, chúng dùng 9 tiểu đoàn tiến công chiếm cù lao Khánh An - Khánh Bình, 2 trung đoàn chiếm Bảy Núi - Châu Phú (An Giang), 5 tiểu đoàn vào Hồng Ngự (Đồng Tháp), 2 trung đoàn đánh vào Long Khốt (Long An). Đặc biệt ở Tây Ninh chỉ trong thời gian ngắn chúng đã huy động tới 8 sư đoàn ra lấn chiếm biên giới, nuôi tham vọng chiếm toàn bộ tỉnh Tây Ninh.

Tại Bến Cầu - Châu Thành, Quân đoàn 4 sử dụng Sư đoàn 7 tiến công sư đoàn 290 Cây Me - Mộc Bài, Sư đoàn 341 cơ động vào An Giang phối thuộc cùng Quân khu 9 tiêu diệt bọn địch ở Khánh An - Khánh Bình, Châu Phú, Bảy Núi, Sư đoàn 330 (Quân khu 9) tiến công bọn địch đã lấn chiếm Hà Tiên (Kiên Giang), v.v...

Cũng trong những ngày đó, tình hình địch trên hướng Quân đoàn 3 đã diễn ra hết sức căng thẳng. Bọn chỉ huy quân khu 203 đã điều một lúc 3 sư đoàn (trong số 5 sư đoàn và 3 vùng chiến thuật hiện có ở khu vực này) vào tham chiến. Trên hướng Sư đoàn 10 của ta, các sư đoàn 5, 4 và vùng chiến thuật 22, Pôn-pốt đã mở những cuộc tiến công lớn vào bắc Xa Mát, điểm cao 62, điểm cao 24, Kà Tum, v.v... Trên hướng Sư đoàn 320, chúng dưa 2 sư đoàn (310, 170) và vùng chiến thuật 20 ồ ạt đánh Xóm Giữa, Lò Gò, Tà Nốt, điểm cao 10, điểm cao 14A... Tiếng súng đánh trả bọn địch lấn chiếm của quân đoàn trên các hướng diễn ra không ngừng.

Thời gian này, anh Kim Tuấn thay anh Vũ Lăng làm Tư lệnh Quân đoàn 3. Trước tình hình cả quân đoàn đang có mặt ở biên giới tỉnh Tây Ninh, anh Kim Tuấn lại đưa tôi trở lại Trưởng phòng Tác chiến Quân đoàn để xây dựng phương án tác chiến.

Tháng 2 năm 1978, tôi được điều về làm Sư đoàn phó Sư đoàn 320. Tháng 3 năm 1978, nhận thấy cuộc chiến tranh biên giới còn kéo dài, chưa thể giải quyết một sớm, một chiều nên cấp trên cử tôi đi học bổ túc ở Học viện Quân sự cấp cao (Học viện Quốc phòng bây giờ).

Vừa mới nhập học được gần 3 tháng, một hôm anh Kim Tuấn ra Hà Nội đã xuống Học viện gặp tôi, anh nói:

- Tiến ơi! Sư đoàn 320 sau khi cậu đi mới gần 2 tháng trời mà thương vong gần 2.000 người. Tôi đã báo cáo Quân ủy, điều cậu về làm Sư đoàn trưởng, ý cậu thế nào?

- Báo cáo anh, lúc này nhiệm vụ chiến đấu là cần kíp, đánh xong tôi đi học cũng không sao anh ạ.

- Cậu chuẩn bị tinh thần nhé, Quân ủy sẽ chấp nhận đề nghị của Quân đoàn thôi.

Một tuần sau tôi có giấy mời về Tổng cục Chính trị, gặp anh Đặng Vũ Hiệp, tôi nói:

- Báo cáo anh, tôi có giấy mời về gặp Quân ủy.

Vẫn vẻ sôi nổi vốn có, anh Đặng Vũ Hiệp vừa rót nước mời tôi vừa nói:

 

- Uống nước đi đã. Thế nào, cậu có khỏe không, gia đình mẹ và vợ con có ổn không?

- Cám ơn anh, mẹ tôi vẫn khỏe, nhà tôi và các cháu cũng đều khỏe anh ạ.

- Tôi nghe anh Kim Tuấn nói, tình hình Sư đoàn 320 chiến đấu gặp khó khăn, thương vong lớn mà sư đoàn chưa đánh được trận nào ra trò làm nhụt ý chí của bọn Pôn-pốt. Quân đoàn muốn xin cậu về làm Sư đoàn trưởng 320, cậu có vướng mắc gì không?

Tôi vui vẻ trả lời:

- Thưa anh! Tôi không có vướng mắc gì và sẵn sàng lên đường trở về đơn vị.

- Thế thì tốt rồi! Quyết định của cậu đây - Nói rồi anh Đặng Vũ Hiệp giao quyết định Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320 cho tôi.

Ba ngày sau, tôi ra sân bay Gia Lâm lên chiếc máy bay AN2 bay vào Thành phố Hồ Chí Minh. Máy bay bay đến Nghệ An thì gặp trục trặc phải quay trở lại. Hôm sau mới lại bay vào. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi gặp anh Kim Tuấn. Tôi và anh đi cùng xe trở về Tây Ninh. Ngồi trên xe, anh trao đổi với tôi tình hình chung của Quân đoàn và tình hình cụ thể của Sư đoàn 320.

 

Ngày hôm sau, tôi xuống Sư đoàn 320, gặp anh Đoàn Hồng Sơn. Anh Hồng Sơn trước đây là thủ trưởng của tôi. Gặp anh, tôi nói:

- Báo cáo anh, tôi được anh Kim Tuấn giao về nhận nhiệm vụ ở sư đoàn mình.

- Tớ biết rồi. Hôm nay cậu nghỉ đi, mai bàn giao nhé.

Hôm bàn giao, anh Hồng Sơn nói như tâm sự:

- Nó cứ bâu bám thế này, bất ngờ tập kích vào đội hình quân ta rồi rút chạy. Tớ định triệu tập anh em về sư đoàn để họ hiến kế may ra mới gỡ được. Tớ chưa kịp làm, cậu về thay tớ làm xem thế nào nhé.

- Tôi xin tiếp thu ý kiến của anh, sẽ triển khai sớm vấn đề này.

Đến cuối tháng 3, địch tiếp tục huy động một lực lượng khá lớn gồm sư đoàn 310, sư đoàn 174 và vùng chiến thuật 22 lợi dụng địa hình phức tạp ở bắc suối Đà Ha tiến công liên tục bằng nhiều thủ đoạn, kể cả bộ binh, xe tăng, pháo binh nhằm đẩy ta vào khu vực rừng rậm ở Mỏ Vẹt để tác chiến theo lối nhỏ lẻ, bu bám, xen cài của chúng. Mặc dù có nơi dịch tiến công 24 trên 24 giờ trong một ngày nhưng chúng vẫn chưa nhích thêm được bước nào, mà còn bị đánh dau, hao tổn sinh lực lớn. Tuy vậy, quân Pôn-pốt vừa là những kẻ mê muội vừa bị bọn chỉ huy thúc ép, cuối cùng chúng cũng thực hiện được việc chia cắt đội hình phòng ngự của sư đoàn. Đặc biệt tuyến phòng ngự Đà Ha của Trung đoàn 48 bị uy hiếp khá mạnh.

Suốt ba ngày từ 25 đến 28 tháng 3 năm 1978, trung đoàn 202 của sư đoàn 310 quân Pôn-pốt mở hàng chục lần tiến công vào toàn bộ tuyến chốt của Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 48) ở ngầm Đá đi Tà Nốt. Có lần quân Pôn-pốt bò vào tận hầm chốt của ta ném lựu đạn và sau đó những trận đánh dai dẳng với bọn lính áo đen lại diễn ra khốc liệt để giành đi, giật lại từng đoạn chiến hào, từng công sự. Không ít những trận ta đã phải lấy hai đổi một, để giữ trọn tấc từng đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Làm thế nào để chặn đứng và đẩy lùi các đợt tiến công của địch? Đó là câu hỏi hóc búa nhưng hết sức cấp bách đối với Bộ Tư lệnh sư đoàn chúng tôi. Rõ ràng cán bộ, chiến sĩ ta trên tuyến phòng thủ Đà Ha chiến đấu rất kiên cường, dũng cảm. Một vài chốt bị cô lập hàng tuần, khi chốt rơi vào tay địch đều trong trường hợp người chiến sĩ cuối cùng đã hy sinh. Vậy thì tại sao ta chưa phá được chiến thuật bu bám của địch? Ở đây không phải là "địch chịu được khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, quen môi trường sống" như một số cán bộ, chiến sĩ suy nghĩ. Những yếu tố đó ngay từ những ngày đầu bước vào phòng ngự chúng ta đã tính đến, đã đề ra biện pháp để ngăn ngừa mà cái chính ở đây là phương thức tác chiến chưa phù hợp.

Chúng ta chưa kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngự và tiến công. Nhiều phân đội còn phòng ngự thụ động chờ địch đến...

Do đó, mặc dù đã trải qua gần mấy tháng trời tác chiến phòng ngự, ta vẫn chưa giành được thế chủ động, vẫn còn trong trạng thái co kéo be bờ. Và dù ta có ra sức co kéo be bờ vẫn không bịt hết những lỗ rò rỉ, dịch vẫn lọt về phía sau quấy phá giết hại nhân dân.

Để giải quyết câu hỏi cấp bách "làm thế nào để giành quyền chủ động trong thế phòng ngự trước sự bu bám dai như đĩa đói của quân thù", ngày 2 tháng 4 năm 1978, tôi trực tiếp chỉ đạo Trung đoàn 48 mở hội nghị rút kinh nghiệm.

Giữa hội nghị, Đại đội trưởng Đại đội 6 Trịnh Xuân Lan thay mặt Tiểu đoàn 2 phát biểu:

- Vừa qua chiến thuật bu bám kết hợp với luồn sâu hoạt động nhỏ lẻ của địch đã làm ta bị động đối phó. Theo tôi, để giành quyền chủ động trong thế chốt trên địa hình phức tạp này, ta nên hoạt động nhỏ lẻ. Thằng địch dùng các tổ nhỏ, ta cũng dùng các tổ nhỏ lẻ đánh lại chúng. Trong đánh Mỹ chúng ta đã phát huy sở trường đánh phục kích, tập kích, đánh bên sườn, phía sau lưng địch. Trong cuộc chiến đấu này ta cần phát huy phương thức chiến đấu đó...

Hội nghị thảo luận sôi nổi và cơ bản nhất trí với ý kiến ấy của đồng chí Lan... Tôi suy nghĩ thời kỳ đánh Pháp cả Sư đoàn 320 ta từ vùng Thanh Hóa vượt qua Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình là qua sông đáy, sông Hồng vào Thái Bình đánh địch, tại sao bây giờ không khai thác để đánh ba thằng nhãi này.

Tôi nêu ý kiến:

- Chúng ta đều thống nhất là dùng lực lượng nhỏ lẻ luồn vào sau lưng địch thực hành, phục kích, tập kích bất ngờ đánh vào sau lưng địch. Đơn vị nào xung phong làm thí điểm.

Đại đội trưởng Trịnh Xuân Lan đứng dậy:

- Báo cáo Sư đoàn trưởng. Đại đội 6 xin được làm thí điểm và hứa hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Về đơn vị, sau khi thống nhất phương án tác chiến cùng ban chỉ huy đại đội, Đại đội trưởng Trịnh Xuân Lan cho bộ đội học tập thảo luận tập thể. Rất nhiều tình huống như hành quân gặp địch, tập kích, phục kích đã được các tổ trong đơn vị tập luyện thành thục... và mong chờ được thực hiện.

 

Sáng ngày 5 tháng 4, Đại đội trưởng Trịnh Xuân Lan trực tiếp chỉ huy một tổ bí mật luồn về phía sau lưng địch. Các chiến sĩ nhẹ nhàng luồn lách dưới những bụi cây rậm rạp, mỗi người quan sát một phía sẵn sàng phát hiện mục tiêu. Đến 2 giờ chiều, tại vị trí đã phục sẵn bên một dòng suối rộng cách tuyến chốt của ta 4 ki-lô-mét về phía tây, tổ phục kích của Lan đã phát hiện được 8 tên địch trở về đang nói chuyện ầm ĩ. Chờ bọn địch khoác súng lên vai chuẩn bị lội qua suối, Đại đội trưởng Lan mới phát lệnh nổ súng. Sau loạt đạn đầu đanh gọn, năm tên địch đã ngã gục. Ba tên còn lại cuống cuồng lao bừa xuống suối định chạy thoát nhưng đã không kịp bởi những tay tiểu liên thiện xạ của tổ Lan. Trận đánh diễn ra không đầy 5 phút, Lan nhanh chóng cho thu súng rồi bí mật lui quân.

Phát huy thắng lợi ngày đầu, ngày thứ hai Lan cho tổ xuất phát từ lúc trời chưa sáng đến phục kích ở một đoạn đường mòn có nhiều dấu chân địch qua lại. Khi sương sớm còn phủ mờ trảng trống, anh em đã phát hiện mấy bóng đen đang lầm lũi đi tới. Để chắc ăn, Lan ra hiệu cho các chiến sĩ của mình bình tĩnh đợi địch đến thật gần. Khi tên địch đi đầu còn cách Lan chừng 10 mét, anh nổ súng phát lệnh. Ngay tức khắc hai viên đạn của anh xuyên giữa ngực tên địch. Nó ngã vật xuống không kịp hiểu điều gì xảy ra. Cùng lúc, chiến sĩ Lương Đình Kính ném hai quả lựu đạn. Hạ sĩ Phùng Đình Cơ cũng bổi luôn một quả B.40 vào tốp địch ở phía sau đang nháo nhác chạy. Trận đánh kết thúc nhanh chóng. Khói súng chưa tan hết, các chiến sĩ đã thu được mỗi người một súng rồi nhẹ nhàng khuất vào rừng xanh.

Sang ngày thứ ba, để không lặp lại kiểu cách hoạt động cũ, 8 giờ sáng, Đại đội trưởng Trịnh Xuân Lan phụ trách một tổ vòng rộng luồn lách về phía sau bọn địch đang bu bám trước chốt Đại đội 5. Lợi dụng những sơ hở của dịch trong lúc tiến công ta, Lan cho tổ vận động nhanh chóng vào sau lưng chúng. Quan sát rõ những tên dịch áo đen quần cộc, đầu trần, chân đất đang hò hét, huýt còi nổ súng vào các chốt của ta, Lan nhanh chóng chỉ mục tiêu cho từng người. Từ bên sườn và phía sau lưng địch những loạt AK đanh gọn của Đại đội 6 nhất loạt vang lên, nhiều tên địch chết gục tại chỗ. Phối hợp chặt chẽ với tổ của Lan, các chốt của Đại đội 5 bật dậy đánh tới. Bị đánh ép từ ba mặt, bọn địch còn lại cùng đường tháo chạy tán loạn lao cả vào bãi mìn do chúng gài, tạo thành những tiếng nổ dây chuyển kéo dài đến tận sẩm tối.

Phương thức hoạt động nhỏ lẻ đạt hiệu quả cao của Đại đội 6 do Đại đội trưởng Trịnh Xuân Lan phụ trách sau đó được phổ biến cho các đơn vị trong sư đoàn học tập. Từ đó phong trào thi đua với "ngọn cờ đầu hoạt động nhỏ lẻ" đã nhanh chóng nhân lên rộng khắp sư đoàn trong suốt giai đoạn phòng ngự.

Ngày 12 tháng 5, một tổ hoạt động nhỏ lẻ của Đại đội 5 Tiểu đoàn 2 do Trung đội phó Nguyễn Văn Lạng chỉ huy hoạt động ở khu vực Xóm Mới đi Lò Gò đã diệt 5 tên thu 3 súng. Cùng ngày, một tổ của Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 hoạt động ở nam Xóm Giữa, diệt 3 tên thu 2 súng.

Ngày hôm sau, ngày hôm sau nữa... những tin vui như thế đều đặn báo về Bộ chỉ huy sư đoàn, địch buộc phải co về phòng thủ, chúng ta rảnh tay tìm mục tiêu tấn công chúng.

Trung tuần tháng 6 năm 1978, Sư đoàn 320 được lệnh bàn giao địa bàn phòng ngự Lò Gò - Xa Mát cho Quân khu 7, lật cánh sang hướng Kà Tum mở rộng địa bàn hoạt động tiến công giải phóng vùng đồn điền cao su Mê Mốt bao gồm khu vực điểm cao 200 đến phum Lou liên kết địa bàn với lực lượng nổi dậy ở tây bắc Đầm Be.

Để thực hiện nhiệm vụ trên, ngày 20 tháng 6 năm 1978, tôi cùng Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48 Nguyễn Hữu Hạ và các phân đội trinh sát lần lượt lên đường sang Kà Tum chuẩn bị địa bàn hoạt động. Được Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 3 hàng ngày theo dõi sát sao, chỉ đạo chặt chẽ nên mọi công việc chuẩn bị chiến trường của sư đoàn tiến triển thuận lợi.

Khu vực hoạt động mới của sư đoàn bao gồm toàn bộ đồn điền cao su Mê Mốt, Đất Đỏ, với những quả đồi mấp mô kéo dài thoải dần về hướng nam có độ cao trung bình từ 100 đến 200 mét khá thuận lợi cho việc tập trung lực lượng cơ giới, lập thế trận tiến công đối phương trên một vùng rộng lớn phía đông tỉnh Công Pông Chàm.

Tại khu vực này, quân khu 203 địch luôn duy trì một sư đoàn trở lên để chốt giữ và xâm nhập vùng biên giới ta. Từ sau khi ta mở chiến dịch Đ7 và nhất là khi các lực lượng nổi dậy vào rừng lập căn cứ ở vùng bắc Đầm Be, địch đã tăng cường lực lượng phòng giữ, liên tục duy trì hai sư đoàn 450 và 280 để phòng ngừa các đợt tiến công của ta, đồng thời truy quét và ngăn chặn các lực lượng chống đối đang phát triển rất mạnh sang bắt liên lạc với Việt Nam.

Lực lượng địch bố trí như sau: sư đoàn 450 chốt giữ các khu vực điểm cao 202, bình độ 200 Sa Lăng 1, Sa Lăng 2, Bản Đỏ, phum Lou. Sư đoàn 280 án ngữ phía tây Mê Mốt, bắc Mê Kông tạo thành vỏ bọc bảo vệ phía đông - đông nam sở chỉ huy quân khu 203 tại Suông - Chúp. Tất cả các vị tríđều nằm dọc hai bên trục đường 7 và 701 đi Công Pông Chàm và Đầm Be.

Âm mưu thủ đoạn của địch ở khu vực này về cơ bản giống bọn địch ở hướng Lò Gò, Xa Mát, cũng đánh nhỏ lẻ luồn sâu tập kích, phục kích... nhưng trên các điểm cao có ý nghĩa chiến thuật địch bố trí hàng loạt công sự, hầm hố hình chữ U chìm rất bí mật chia thành nhiều tầng kết nối. Khi xảy ra tác chiến, phần lớn lực lượng địch đều có thể dâng lên tuyến công sự đầu tiên đánh trả ta. Nếu ta đánh mạnh, chúng vừa ra sức chống trả vừa rút dần từng bước.

Chuẩn bị chiến trường xong, ngày 8 tháng 8 năm 1978 Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 lệnh cho Sư đoàn 320 (thiếu Trung đoàn 64) được tăng cường Trung đoàn 24 (Sư đoàn 10), 2 đại đội xe tăng, xe bọc thép tiến công tiêu diệt sư đoàn 450, chiếm toàn bộ địa bàn quan trọng từ ngã ba Sàm Rông theo trục đường 701 qua các điểm cao 200, 202, Sa Lăng 1, Sa Lăng 2, phum Lou, buộc địch phải phân tán lực lượng, co kéo đối phó, tạo điều kiện cho Sư đoàn 10, Sư đoàn 31 chiếm giữ các điểm quan trọng trên trục đường số 7, đồng thời mở rộng địa bàn, mở rộng hành lang liên kết với lực lượng nổi dậy của bạn.

Ngày 10 tháng 8 năm 1978, Đảng ủy Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320 họp bàn triển khai nhiệm vụ. Thay mặt Đảng ủy -Bộ Tư lệnh sư đoàn tôi nói:

- Để liên kết được với lực lượng bạn ở bắc Đầm Be, tây phum Lou, sư đoàn phải chiếm toàn bộ đồn điền cao su Mê Mốt. Đây là khu vực quan trọng có ý nghĩa cả về quân sự và chính trị. Nếu không đánh chiếm và làm chủ được khu vực trên thì ta không thể mở ra một hành lang an toàn đưa hàng vạn dân và lực lượng ly khai ra vùng căn cứ. Mặt khác, ta cũng không thể tạo ra được một thế đứng vững chắc cho các hoạt động mạnh mẽ tiếp theo.

Về phương thức tác chiến, sư đoàn chủ trương: Không dùng lực lượng lớn đột phá chính diện mà dùng lối đánh luồn sâu, bao vây tiến công liên tục; trên cơ sở đó đưa lực lượng hình thành bao vây nhiều tầng, nhiều lớp; từ đó mở nhiều mũi tiến công vào bên sườn phía sau lưng địch, cùng một lúc bất ngờ tiến công kết hợp chặt chẽ đột phá chính diện với các mũi bao vây chia cắt bên sườn làm cho địch rối loạn ngay từ đầu không kịp đối phó, từng bộ phận bị cô lập không ứng cứu được cho nhau; đánh đến đâu giữ vững trận địa đến đó, diệt gọn từng điểm, diệt sở chỉ huy, phá cơ sở hậu cần và lực lượng dự bị của chúng.

Về nhiệm vụ cụ thể, Bộ Tư lệnh sư đoàn giao cho Trung đoàn 24 (Sư đoàn 10) được tăng cường 4 xe tăng, 2 pháo 37 ly đảm nhiệm hướng tiến công chính diện, bước đầu có nhiệm vụ thu hút giam chân trung đoàn 103 địch ở điểm cao 200 và 202, tạo điều kiện cho hướng chủ yếu do các trung đoàn 48 và 52 đảm nhiệm luồn sâu kết hợp với thọc sâu có thiết giáp yểm trợ bất ngờ đánh thẳng vào sườn phía sau và sở chỉ huy sư đoàn 450 ở Sa Lăng 1, trận địa pháo và trung đoàn 102 địch ở Sa Lăng 2. Bước hai, khi tiến công toàn tuyến, Trung đoàn 24 tiến đánh bọn địch ở đông điểm cao 200 và 202, bắt liên lạc với Trung đoàn 52 đánh từ hướng tây xuống. Trung đoàn 48, sau khi đã làm chủ các mục tiêu phát triển về hướng tây đánh chiếm điểm cao 148, các cơ sở hậu cần của sư đoàn 450 chặt đứt đường 701 ở phum Lou, chốt giữ địa bàn đánh địch phản kích từ hướng Ka Ra Săng lên.

Đến ngày 12 tháng 8 năm 1978, mọi công việc chuẩn bị cho trận đánh lớn đã hoàn tất. Trên các hướng, các trung đoàn đã tiến vào chiếm lĩnh tuyến xuất phát tiến công.

Chiều ngày 12 tháng 8, cùng với việc Trung đoàn 24 dùng pháo và các tổ bộ binh đánh nhỏ lẻ kìm chân địch, trong các cánh rừng cao su ở tây bắc điểm cao 93 bộ đội của Trung đoàn 48, Trung đoàn 52 và các đơn vị tăng cường đang hối hả chuẩn bị cho đơn vị luồn sâu.

Cũng chiều ngày hôm đó, trước giờ xuất trận, tôi nói với Chính ủy sư đoàn Đặng Ngọc Trụy và Phó Chủ nhiệm chính trị Đinh Hữu Tấn tới thăm và động viên các Trung đoàn 48, Trung đoàn 52. Chính ủy Trung đoàn 48 Phạm Mậu Chướng báo cáo:

- Quân số đi chiến đấu đầy đủ. Mọi việc đã chuẩn bị xong. Cán bộ, chiến sĩ hăng hái đăng ký và hứa quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Đêm không trăng, trời tối đen, mưa giăng mịt mù. Trên đoạn đường luồn sâu dài 20 ki-lô-mét cắt rừng, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 52 và Trung đoàn 48 mặc dù nang vác rất nặng, trang bị lỉnh kỉnh nhưng vẫn lặng lẽ bí mật bám nhau.

2 giờ sáng ngày 13 tháng 8, Trung đoàn 52 đã áp sát địch. Trong khi đó Trung đoàn 48 còn cách phum Lou 3 ki-lô-mét. Một tình huống xảy ra: 4 xe thiết giáp K63 từ vị trí tập kết tiến vào vị trí xuất phát xung phong trực tiếp chi viện cho Trung đoàn 48 bị sa lầy, phải có thời gian và lực lượng nhất định mới khắc phục nổi.

Nghe báo cáo của Trung đoàn 48, tôi nói:

- Trung đoàn 52 đã vào đúng vị trí quy định (cách Sa Lăng 1, sở chỉ huy sư đoàn 450 của địch 3 ki-lô-mét), khẩn trương hoàn thành công tác chuẩn bị tiến công. Nếu bị lộ, Trung đoàn 52 sử dụng lực lượng nhỏ đánh thu hồi hỗ trợ, Trung đoàn 48 để lại Đại đội 3, Tiểu đoàn 1 và Đại đội 10 Tiểu đoàn 3 bảo vệ xe, khắc phục đường, lực lượng còn lại nhanh chóng luồn vào áp sát mục tiêu trước khi trời sáng.

Tôi nhấn mạnh:

- Vấn đề quyết định thắng lợi cho những trận đánh luồn sâu kết hợp thọc sâu là đưa lực lượng vào đúng thời gian và vị tríquy định. Không đạt được ý đổ đó không thể nói đến thắng lợi.

4 giờ 30 phút sáng ngày 13 tháng 8, Trung đoàn 48 diện về báo cáo Bộ Tư lệnh sư đoàn đã bám được trục đường 701 và áp sát phum Lou, đang triển khai đội hình chiến đấu, cụm cơ giới bị lầy dã khắc phục xong đang tiến theo đội hình.

Tin này làm cho mọi người trong Sở chỉ huy phấn chấn hẳn lên, trút được gánh nặng sau một đêm dài đốc chiến căng thẳng.

5 giờ 30 phút, trên hướng đột phá chính diện, Trung đoàn 24 được lệnh nổ súng thu hút địch. Vẫn như mọi ngày, bọn địch hò nhau chống cự "quyết đẩy lùi quân Việt Nam".

Đúng 6 giờ sương vừa tan nhìn rõ mặt người, tại Sở chỉ huy sư đoàn tôi ra lệnh tiến công toàn tuyến.

 

Ngay từ phút đầu, hai trận địa pháo 105 ly và 85 ly của Trung đoàn 54 đã trút đạn xuống trung đoàn 103 địch ở các điểm cao 200, 202, sở chỉ huy sư đoàn 450 và trung đoàn 122 ở Sa Lăng 1, Sa Lăng 2, Bản Đỏ. Trong khi pháo binh của sư đoàn còn giội bão lửa xuống các khu vực, mục tiêu quan trọng ở trung tâm địch thì Trung đoàn 52 và Trung đoàn 48 trên hướng vu hồi bật dậy tiến công.

Tại hướng Trung đoàn 52, sau khi Tiểu đoàn 4 áp sát được sở chỉ huy sư đoàn địch, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hữu Mót lệnh cho cụm hỏa lực ĐKZ, 12,7, cối 82 của trung đoàn tăng cường bắn mãnh liệt vào các mục tiêu: cần ăng-ten, cụm xe, công sự... Chớp thời cơ, Đại đội 1, mũi chủ yếu đồng loạt bật dậy đánh chiếm tầng công sự vành ngoài rồi nhanh chóng thọc thẳng vào khu vực trung tâm. Nhưng tại đây, sau những phút bị choáng váng bởi pháo ta bắn, bọn địch đã hồi tỉnh, dựa vào hầm hố chống trả điên cuồng. Đạn các loại của dịch xổ ra ken thành lưới lửa ngăn chặn Đại đội 1. Tốc độ phát triển của Tiểu đoàn 4 bị chững lại.

Tại gò đất cao trong lô cao su đối diện với mục tiêu, lưới lửa dày đặc của dịch, khẩu ĐKZ 82 của Nguyễn Văn Thình vẫn bình tĩnh diệt từng hỏa điểm lợi hại. Phối hợp chặt chẽ với khẩu đội ĐKZ 82, khẩu đội cối 82 cùng thi nhau trút dạn vào đầu quân địch. Trong chốc lát, cả sở chỉ huy địch câm bặt.

Toàn bộ bọn địch trong sở chỉ huy không chịu nổi những đòn cận chiến ác liệt của lực lượng ta nên đã phải dùng đến thủ đoạn quen thuộc "tùy nghi di tản" để bảo toàn lực lượng.

Chúng tháo chạy tán loạn xuống lô cao su phía sau. Sư đoàn trưởng 450 chỉ kịp mang theo một máy bộ đàm. Nhưng tại đây bọn địch lại sa vào cái bẫy giăng sẵn của Đại đội 3. Số lớn địch bị tiêu diệt. Bọn còn lại bỏ chạy tan tác.

Ở hướng Đại đội 2 đánh vào Bản Đỏ (khu khơ hậu cần của sư đoàn 450). Bị đánh bất ngờ từ hai phía, bọn địch trong bản cuống cuồng đối phó. Lợi dụng bọn địch trên sàn nhà lúng túng, xạ thủ B.41 Trung đội 1 Phạm Minh Sang bật dậy bắn thẳng vào gian nhà đặt 2 khẩu RPD, trong nháy mắt căn nhà bốc cháy rồi bùng lên những tiếng nổ liên hồi.

Kho đạn nổ, bọn địch trong Bản Đỏ không còn hồn vía nào chống trả, phá chạy tán loạn. Đại đội 2 khóa chặt vòng vây và lệnh cho từng tổ truy kích những tốp địch bỏ chạy. 30 phút sau, Đại đội 2 đã hoàn toàn làm chủ trận địa.

 

Đến 12 giờ trưa, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 52 đã gặp nhau ở bắc Bản Đỏ.

Đến 13 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 52 cũng bắt liên lạc được với Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 24 và cụm xe tăng tăng cường ở phía tây các điểm cao 200, 202. Toàn bộ sư đoàn 450 địch đã bị đánh tan tác.

 

Sau khi đã làm chủ các khu vực then chốt: điểm cao 200, Sa Lăng 1, Sa Lăng 2, Bản Đỏ... Chỉ huy sư đoàn lệnh cho các đơn vị tiếp tục tiến công truy quét ra các vùng xung quanh phum Lou, Ka Ra Săng, phum Kốc... nhằm liên lạc với lực lượng bạn dang bị quân Pôn-pốt vây hãm ở bắc Đầm Be, tây Sê Rê Kấk...

Như vậy, sau ba ngày đêm liên tục tiến công truy quét địch, ta đã đánh thiệt hại nặng sư đoàn 450, phá hủy một kho đạn và toàn bộ cơ sở hậu cần ở Bản Đô, thu hơn 100 súng các loại, mở ra một địa bàn rộng lớn và hết sức quan trọng, tạo thế và lực cho nhiệm vụ tiếp theo.

Cuối tháng 11 năm 1978, vùng biên giới bắc Kà Tum phía nam Mê Mốt đã bước vào mùa khô, bầu trời xanh cao, mặt đất chan hòa ánh sáng. Nơi đây đất trời dường như trở lại thanh bình, trên vùng giáp ranh có ngày không một tiếng súng nổ. Rõ ràng thể địch đã suy, sức địch đã yếu. Trong suốt mùa mưa phản kích ta, chúng chẳng những không giữ nổi những phần đất quan trọng mà còn mất thêm những vị trí vô cùng lợi hại. Mọi cố gắng của địch đều trở nên tuyệt vọng.

Đối với Sư đoàn 320, chiến thắng trong mùa mưa năm 1978 không dừng lại ở số liệu diệt địch và giành lại những khu vực rộng lớn trên vùng biên giới bắc Kà Tum, cũng không chỉ đóng khung trong phạm vi đánh bại toàn bộ những đợt phản kích lấn chiếm của các sư đoàn 450, 280 địch... mà còn đạt tới những ý nghĩa sâu xa to lớn hơn nhiều. Đó là sư đoàn đã chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh cấp trên, đánh địch theo yêu cầu của bạn, vượt mọi khó khăn, gian khổ hy sinh, móc nối bằng được với lực lượng cách mạng chân chính và nhân dân vùng đông Công Pông Chàm nổi dậy chống lại bọn phản động Pôn-pốt, làm lại cuộc cách mạng bị phản bội, cứu dân tộc Cam-pu-chia khỏi thảm họa diệt chủng.

Trong suốt mùa mưa, vì phải đối phó với ta nên quân khu 203 đã kiệt sức, vì vậy địch phải thành lập bộ chỉ huy mặt trận đường 7 (tháng 7 năm 1978) ở Suông. Bước vào mùa khô, tuy đã mệt mỏi nhưng chúng vẫn đốc thúc các sư đoàn 280, 174, 450 và 215 tích cực phản kích lấn chiếm vùng giải phóng của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, phá cơ sở hậu cần chiến dịch của ta, bởi chúng phán đoán thế nào ta cũng sẽ mở chiến dịch tiến công trong mùa khô vào khu vực Stâng Krết. Chính vì thế các sư đoàn 280, 450 và 174 đóng dày đặc từ phum Sâm đến Tà Hiên - Krết -Stâng, chiếm một số điểm cao có giá trị chiến thuật phía bắc và nam đường số 7.

Tiền phương Bộ Quốc phòng tăng cường cho Quân đoàn 3 Sư đoàn 302 (Quân khu 7) để mở chiến dịch đường 7. Sau khi nghiên cứu cục diện chung trên chiến trường, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 đã hạ quyết tâm chiến đấu và giao nhiệm vụ cho các đơn vị như sau:

- Sư đoàn 10 từ vùng bàn đạp ở hướng bắc đường, số 7 đánh chiếm Stâng - Tà Hiên.

- Sư đoàn 31 tiến theo đường số 7 đánh chiếm Krết.

- Sư đoàn 320 từ vị trí bàn đạp phía nam phum Lou và đồn điền cao su Mê Mốt thọc sâu đánh vào sở chỉ huy mặt trận đường 7 của địch ở Suông, chốt chặn ở Chúp nhằm chốt chặt lực lượng quân sự của quân khu 203 trong khu quyết chiến của chiến dịch, sẵn sàng chặn đánh quân phản kích từ phía Công Pông Chàm tới và Prây Veng lên. Đánh thẳng vào sở chỉ huy mặt trận đường 7 tức là nhằm đúng huyệt điểm. Mất Suông - Chúp tức là cơ quan đầu não quân khu 203 của địch bị phá vỡ, đường rút chạy về Công Pông Chàm của địch cũng không còn, thế trận trên đường số 7 bị sụp đổ, các sư đoàn 310, 450, 174 và 280 sẽ bị lực lượng tiến công chủ yếu của ta tiêu diệt. Do đó thời gian đánh thắng Suông - Chúp chỉ có thể là một ngày. Một ngày! Vậy làm sao có thể lướt nhanh qua các mục tiêu thứ yếu và tuyến trực tiếp tiếp xúc dày đặc từ Đầm Be đến Bản Dài, thọc thẳng vào Suông - sở chỉ huy quân khu 203 địch?

Câu hỏi ấy cứ xoáy vào tôi trên đường đi nhận nhiệm vụ ở Bộ Tư lệnh quân đoàn về. Tôi nhớ trong cuộc họp giao nhiệm vụ, Tư lệnh quân đoàn Kim Tuấn hỏi tôi:

- Quyết tâm của Sư đoàn trưởng 320 thế nào?

Tôi đứng dậy, chậm rãi trả lời:

- Trong tình hình và thế trận này, tôi nghĩ dù ba ngày hay hai ngày ta cũng chiến thắng, có điều sẽ vất vả, tăng thêm tổn thất, còn có thể không thực hiện được cắt nhỏ đội hình, làm cho cuộc chiến đấu kéo dài. Thưa đồng chí Tư lệnh quân đoàn, Sư đoàn 320 chúng tôi xin đề nghị phương án đánh một ngày.

Tư lệnh Kim Tuấn kết luận:

- Tổ chức lực lượng hành tiến thọc sâu bằng cơ giới vượt qua tuyến trực tiếp tiếp xúc, bỏ qua những mục tiêu thứ yếu, liên tục đột kích trên chiều dài tiến công gần một trăm ki-lô-mét, bất ngờ đánh chiếm sở chỉ huy, mặt trận đường 7 (quân khu 203 ở Suông), chia cắt chốt chặn chiến dịch ở Chúp trong một thời gian.

Về sư đoàn, thay mặt Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320, tôi giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị như sau:

- Trung đoàn 64 bí mật luồn lên phía bắc, đánh chiếm hậu cứ sư đoàn 116 ở Đầm Be, chiếm bằng được ngã ba Đầm Be đi Pa Ra Thiết đón Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 52 và đón Trung đoàn 48 ở đó thu hút lực lượng địch đang đối diện với sư đoàn, tiếp tục ép chúng về phía bắc và tây bắc, bảo vệ sườn cho Trung đoàn 48 và chủ lực của sư đoàn, khi đội hình của sư đoàn vượt qua đó thì trở thành lực lượng dự bị.

- Trung đoàn 52 đánh chiếm Sê Rê Kâk - Bâng Hếk, mở cửa cho lực lượng thọc sâu (thiếu Tiểu đoàn 4).

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ bước một, hai trung đoàn này tiếp tục đánh địch mở rộng sang hai phía bắc và nam theo hướng tiến công của sư đoàn. Và như vậy từ Đầm Be lực lượng dự bị cho lực lượng thọc sâu trở nên rất mạnh.

- Riêng Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 52 được tăng cường xe tăng, thiết giáp từ vị trí xuất phát vượt qua đội hình Trung đoàn 52 mở đường cho Trung đoàn 48 vượt qua ngã ba Đầm Be và nhanh chóng chiếm Pa Ra Thiết chốt chặn chia cắt địch trên đường số 7 hỗ trợ cho Trung đoàn 48 tiến đánh sở chỉ huy quân khu 203 địch ở Suông - Chúp và bắt liên lạc với Sư đoàn 10 từ Me Loa - Stâng - Tà Hiên tiến xuống tại ngã ba Pa Ra Thiết.

 

- Trung đoàn 48, lá cờ đầu "luồn sâu đánh giỏi" của quân đoàn vinh dự được nhận nhiệm vụ thọc sâu bằng cơ giới đánh chiếm Suông - Chúp, sở chỉ huy 203, mặt trận đường 7 của địch. Đồng chí Trần Ngọc Chung, Sư đoàn phó trực tiếp chỉ huy hướng tiến công quan trọng này. Để đảm bảo chắc thắng, sư đoàn tổ chức một tiểu đoàn hỗn hợp luồn vào sau lưng địch chiếm đoạn đường rút của địch không cho chúng chạy về bến phà Công Pông Chàm do đồng chí Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Dóng đảm nhiệm.

Trong những ngày này, Bộ Tư lệnh và cơ quan quân đoàn thường xuyên xuống theo dõi kiểm tra mọi công tác chuẩn bị của sư đoàn, các đồng chí đặc biệt quan tâm đến vấn để đảm bảo đường cơ động và hậu cần, kỹ thuật cho Trung đoàn 48. Dự hội nghị quân chính của Trung đoàn 48, Tư lệnh quân đoàn Kim Tuấn nói:

- Rồi đây Trung đoàn 48, có thể là cả sư đoàn nữa không phải "mượn" xe tăng và cơ giới của quân đoàn nữa. Từ trận vận động thọc sâu này, các đồng chí sẽ giúp quân đoàn trả lời một số câu hỏi do thực tiễn đặt ra... Nhưng trước hết, trận này các đồng chíphải: bí mật, nhanh chóng, bất ngờ, táo bạo, chiến thắng.

Ngày 28 tháng 12, Trung đoàn 64 do Trung đoàn trưởng Vũ Côi, Tham mưu trưởng sư đoàn Nguyễn Hữu Mão lặng lẽ xuyên rừng, thực hiện nhiệm vụ áp sát Đầm Be.

Sau ba ngày đêm luồn rừng, vượt qua các chốt địch, vật lộn với những cơn khát cháy cổ, những cơn buồn ngủ dữ dội, các chiến sĩ Trung đoàn 64 đã áp sát mục tiêu và thực hành bao vây bất ngờ nổ súng. Địch trong khu vực Đầm Be vỡ rất nhanh. Số sống sót chạy tủa vào cánh rừng phía tây - tây bắc. Được pháo binh yểm trợ, sau gần một giờ chiến đấu, Trung đoàn 52 đã quét sạch địch khỏi khu vực Sê Rê Kák -Bâng Hếk. Lúc này trên các hướng khác của chiến dịch, quân ta cũng đồng loạt nổ súng.

Thế trận đã tạo ra, cửa mở được khai thông. Trung đoàn 48 xuất kích. Hàng trăm xe các loại gồm xe tăng, xe thiết giáp, xe kéo pháo 105, pháo phòng không, xe chở bộ binh, xe chở đạn, gạo... cùng nổ máy. Một vùng rừng bừng tỉnh, rùng rùng chuyển động, đoàn quân náo nức lao vào trận đánh.

Trên đường, địch liên tiếp chống trả. Chúng vừa đánh vừa tháo chạy và vội vã rải mìn ngăn chặn. Liên tiếp hai xe M.113 của ta bị trúng mìn. Bộ đội công binh đã khắc phục khá nhanh, tốc độ tiến công của ta không bị chậm lại, công kích mạnh vào sở chỉ huy quân khu 203, mặt trận đường 7 của chúng.

Qua Đầm Be, Tiểu đoàn 4 do Trung đoàn phó Trần Xuân Kế chỉ huy liên lạc với lực lượng chia cắt của Trung đoàn 64 đã chiếm ngã ba Đầm Be và gặp nhau tại đó. Sau khi được anh em Trung đoàn 64 thông báo một số tình hình địch, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 52 nhanh chóng thọc thẳng về phía tây nam nhằm hướng đường 7 xốc tới. Ba giờ sau, với sức mạnh tiến công bằng cơ giới, Tiểu đoàn 4 đã chiếm được ngã ba Pa Ra Thiết, bắn cháy 8 xe quân sự, diệt nhiều dịch, chiếm một trận địa pháo, hoàn thành nhiệm vụ chia cắt chốt chặn địch trên đường số 7. Đến 17 giờ, Tiểu đoàn 4 bắt liên lạc được với lực lượng Sư đoàn 10.

Trên hướng thọc sâu chiến dịch, hai lần Tiểu đoàn 2 gặp địch. Hỏa lực xe tăng, xe bọc thép của ta ghìm đầu địch xuống. Tiểu đoàn 2 đánh mạnh vào hai bên sườn. Những tầng, lớp chiến hào, công sự địch bị nghiền nát, bọn lính Pôn-pốt còn sống sót tháo chạy tán loạn vào rừng. Đoàn xe ẩm ẩm lao đi cuốn bụi mù mịt. Từ Sư đoàn phó Trần Ngọc Chung đến chiến sĩ, ai cũng lấm lem bụi đất.

Đường hẹp lại gồ ghề, hai xe bọc thép bị "vận" trật xích. Đường tắc. Phải tự mở đường mà đi thôi. Trinh sát ra xung quanh nhiều lần nhưng không tìm được lối vòng tránh, Trung đoàn phó Nguyễn Quang Vinh quyết định cho xe tăng Tiểu đoàn 1 "theo góc phương vị" vào cánh rừng non. Xe tăng đi trước, xe thiết giáp bám theo sau, sau cùng là ô tô. Gặp sình lầy thì tránh, gặp cây thì chặt cây, mặt đất gồ ghề thì đạp lên mà đi. Cứ nhằm thẳng mục tiêu mà tiến; phải tự mở 3 ki-lô-mét rừng như thế mới nhập được đường cũ, rừng cao su của đồn điền Chúp đã ở trước mặt. Đi nữa. Vẫn là rừng cao su. Rừng cao su mênh mông, bạt ngàn.

Khi gặp con đường nhựa trong rừng cao su chạy về hướng đông nam, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trịnh Xuân Lan giờ bản đồ ra nhưng anh vẫn hỏi Căm Xon Ươn (hàng binh quân khu 203 của Pôn-pốt):

- Vào Chúp còn bao xa nữa?

- Đi theo đường này chỉ còn 3 ki-lô-mét - Căm Xon Ươn trả lời.

Lan xem đồng hồ. Đã 16 giờ 30 phút. Mọi người đều thống nhất nhận định: Sau cuộc hành quân dài trong ngày ta đã áp sát mục tiêu đúng phương án mà quân địch chưa hề hay biết! Thắng lợi đã ở trong tầm tay. Đội hình phía sau chưa lên kịp, hiện chỉ có 4 xe bọc thép M.113, sáu ô tô chở 1/3 quân số chiến đấu của tiểu đoàn nhưng phải đánh ngay. Quyết không cho quân địch kịp trở tay, không cho chúng chạy thoát.

Tiểu đoàn chia thành hai mũi: mũi thứ nhất đánh vào Chúp do Đại đội 5 của Lê Thế Mùi đảm nhiệm. Mũi thứ hai do Trịnh Xuân Lan và Tiểu đoàn phó xe tăng Nguyễn Tiến Hướng trực tiếp chỉ huy đánh chiếm khu vực ngã ba đường 7 và đường 15, thực hiện nhiệm vụ chia cắt chốt chặn địch.

Chiều xuống nhanh. Từ sáng đến giờ chưa có thời gian để ăn nhưng không ai nghĩ rằng mình đói. Phải đánh ngay! Đánh thắng là nhiệm vụ số 1 lúc này. Dọc đường, Đại đội 5 nhổ bật hai chốt địch. Mục tiêu chính đã hiện ra. Đó là tòa biệt thự nổi lên giữa khu nhà tôn đồ sộ, xung quanh là 4 vòng chiến hào và lô cốt dày đặc. Đại đội 5 phải dừng lại trước khoảng đất trống. Đạn địch bắn ra như mưa. Lái xe Nguyễn Văn Sức trúng đạn hy sinh. Chiếc M.113 chuệnh choạng, lật nghiêng xuống chân cầu. Lê Thế Mùi lệnh cho hỏa lực bắn hút vào cửa mở. Nguyễn Văn Hoan vòng sang trái. Còn cách chiếc M.113 địch chừng 50 mét, Hoan giương khẩu B.40 lên. Vẫn thấp, thì ra xe địch chui vào công sự. Hoan bò sang phải bám vào một gốc cao su cụt, trèo lên. Chớp đạn từ trên cao chụp xuống. Chiếc M.113 phụt cháy. Bộ đội ta ào lên chiến hào một. Chiếc M.113 còn lại rời công sự chạy tuốt về phía sau. Chiếc GMC của ta rú ga đuổi theo. Chiếc xe bọc thép địch lao bừa qua xác đồng bọn. Xe ta đuổi riết. Đứng trên xe, xạ thủ đại liên Vũ Ngọc Lãnh kéo từng điểm xạ dài. Đạn xiết vào chiếc M.113. Khiếp đảm, bọn lính bỏ xe lao ra. Khẩu đại liên lại nổ. Tiếng hô xung phong vang rừng.

Trong biệt thự đầy đủ tiện nghi, một bữa tiệc thịnh soạn bày trên bàn, ngồn ngộn những món ăn. Tất cả còn bốc khói, tên điện báo viên chết gục xuống bàn. Chiếc máy vô tuyến rên sè sè...

Đại đội 7 phải vượt qua chặng đường lửa mới tới được quốc lộ 7 (đoạn phía tây Chúp). Chưa triển khai xong đã phát hiện một đoàn xe địch từ hướng Công Pông Chàm chạy tới. Lan và Hướng nhất trí nhanh: Đánh ngay! Giương súng lên hai lần nhưng Bùi Ngọc Hỷ lại hạ xuống. Rừng cao su dày quá. Hỷ bứt lên. Phạm Đình An bám theo: "Cậu bắn trước đi. Chiếc đi đầu ấy" - Anh bắn một quả B.40. Chiếc M.113 xô lệch đi. Lửa phụt lên. Hỷ bắn quả B.40 nữa trúng đầu chiếc GMC. Bị chặn đánh bất ngờ, địch rối loạn. Lính bộ binh nhảy túa vào rừng, súng 12,7 ly của ta quét chúng trở lại. Chiếc xe bọc thép mang số hiệu 285 xông thẳng vào đội hình địch. Pháo thủ Đinh Trọng Khanh bắn cháy chiếc M.113 còn lại, lực lượng đầu tiên đi ứng cứu cho Suông - Chúp bị tiêu diệt gọn! Đại đội 7 làm chủ một đoạn đường 7. Từ đấy lực lượng quân sự của quân khu 203 bị nhốt chặt trong khu quyết chiến của chiến dịch. Bấy giờ trời đã tối hẳn.

Tiểu đoàn 1 đang khẩn trương tiến xuống phía nam. Xung quanh vẫn là rừng cao su. Vẫn mất liên lạc. Ngay cả Căm Xon Ươn, Chăn Thi cũng không biết đích xác còn cách Suông bao nhiêu. Bỗng nghe tiếng nổ dậy lên từ phía Chúp.

Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Nguyễn Minh Tác nói với vẻ sốt ruột: "Đơn vị bạn đã đánh rồi".

- Tăng tốc độ sẵn sàng chiến đấu với Tiểu đoàn 2 - Nguyễn Quang Vinh ra lệnh. Ít phút sau phía trước báo về có nhân dân ra đón. Họ là phu của đồn điền cao su Chúp sống sót sau đợt tàn sát thảm khốc tháng 5 năm 1978. Một người đàn ông (sau này anh em được biết tên là Pi Coi) chỉ đám thanh niên nam nữ nói: "Chờ bộ đội Việt Nam đến cháy ruột cháy gan rồi đấy. Chúng nó muốn dẫn bộ đội Việt Nam đi đánh Pôn-pốt đó". Ông Pi Coi lấy que vạch lên mặt đất thế bố phòng của địch.

Suông đã ở trước mặt. Tiểu đoàn 1 chia làm 3 mũi đánh thốc vào, tràn qua trận địa pháo 37 ly. Trận chiến đấu diễn ra ngày một quyết liệt. Vài ngôi nhà trong trung tâm chỉ huy bốc cháy. Đạn như chổi lửa quét nhoáng nhoàng, chiếc T58 địch lùi về, chui vào bức tường đổ, vài đạn về phía Đại đội 1. Xe tăng T54 của ta bắn quả pháo 100 ly hất đổ bức tường. Chiếc xe tăng T58 trơ ra. Nó lùi nữa. Lương Xuân Châu xách súng chạy dạt sang đón đầu. Anh bắn quả đạn nổ trùm lên tháp pháo. Chiếc T58 quay đầu. Đại đội 1 vây chặt ngôi nhà. Địch ném lựu đạn qua cửa sổ. Một quả lãn trên lưng Dương Đình Thụy, xì khói. Thụy co chân gạt xuống ngách hào. Anh vẫy Lê Trung Thức, Nguyễn Đình Quảng trườn lên. Ba người thả lựu đạn qua cửa sổ. Những tiếng nổ đanh vang lên. Chính trị viên Nguyễn Xuân Tính dẫn bộ đội đạp cửa chính dồn địch từ dãy nhà này sang dãy nhà khác.

Xe tăng, xe bọc thép của ta tràn qua khu nhà rực lửa, nghiến qua từng dây công sự, húc đổ lô cốt. Tiếng động cơ gầm lên hòa với tiếng súng, tiếng hô xung phong...

 

Trận địa la liệt xác địch. Rất nhiều tên bị xích lại trong lô cốt. Tiểu đoàn 1 làm chủ sở chỉ huy mặt trận đường 7.

Nhưng lực lượng quân sự của quân khu 203 mới chỉ "tan ra", nó sẽ nhanh chóng "tụ lại" và có thể vẫn làm nên chuyện. Tính toán ấy không phải là phiêu lưu. Nhưng những gì đang đợi chúng trên đoạn đường "an toàn" kia?

Tiếng động cơ và ánh đèn pha rõ dần. Trịnh Xuân Lan hạ lệnh "chuẩn bị". Có ai băn khoăn "biết đâu quân ta?". Nhìn những vệt đen, chỗ thì vón cục dồn ứ lại, chỗ thì đứt đoạn rời rạc.

Nguyễn Tiến Hướng khẳng định: "Đó không phải là đội hình tiến công. Đó là hình dáng của kẻ dịch tháo chạy. Anh Lan nói đúng đấy... chuẩn bị!".

Nguyễn Bá Kiên, Phạm Hùng Chiến đưa xe K63 bám sát lề đường. Địch đã vào tầm súng. Bắn! Hai chiếc ô tô lập tức bốc cháy. Bị đánh phủ đầu, dịch khựng lại. Cậy vỏ thép dày, chiếc xe tăng T58 lách sang, lồng lộn chống trả. Khẩu ĐKZ gắn trên xe chỉ huy bị hỏng. Xạ thủ B.40 Luận Công Tiến trúng đạn hy sinh. Hướng xách súng của bạn bám theo vạt cỏ, bò lên, quả B.40 nổ lóe trên tháp pháo. Chiếc T58 lùi lại. Quả thứ hai, Hướng bắn cháy chiếc M.113. Bọn lính từ chiếc T58 hoảng sợ lao ra, bị Ngô Tất Thắng' cản lại. Hướng nhảy lên chiếc xe tăng của địch. Quay nòng pháo, Hướng hối hả gọi: "Thắng ơi, tiếp đạn". Địch co cụm lại. Chiếc xe số 206 của Phạm Hùng Chiến nhằm chiếc xe Giải phóng mở hết tốc lực. Sau pha dụng đầu, chiếc ô tô bị hất xuống lòng mương. Lựu đạn, B.40 nổ chồng lên nhau. Đại đội 7 bật dậy, lia đạn tới tấp vào quân địch. Xác địch vắt lên thành xe, cắm xuống ruộng. Lửa sáng rực một vùng. Địch tan. Số sống sót tháo chạy về phía sau.

Suốt đêm ngày 31 tháng 12 năm 1978, Đại đội 7 liên tục chặn đánh hàng chục đợt phản kích của địch, giữ vững trận địa, đường số 7 đoạn từ Suông lên Chúp trở thành đoạn đường máu của quân khu 203 địch.

Buổi sáng ngày 1 tháng 1 năm 1979 đến sớm hơn thường lệ bằng những trận đánh của Trung đoàn 48. Sau khi diệt nốt những mục tiêu còn lại và hoàn toàn làm chủ khu vực Suông, Tiểu đoàn 1 được tăng cường thêm xe tăng, pháo binh được lệnh vượt qua bàn đạp của Tiểu đoàn 2 ở Chúp, bắt liên lạc với tiểu đoàn ém sẵn của Nguyễn Hữu Dông, lần lượt đè bẹp từng cụm dịch trên đường số 7, làm chủ bến phà phía đông Công Pông Chàm.

 

Cùng trong ngày 31 tháng 12 năm 1978, sau khi vượt qua cửa mở khu vực làng 18 và các điểm cao 125 và 113, Sư đoàn 10 đánh thẳng vào Mô Lau, sau đó phát triển tiến công Stâng, Tà Hiên, bắt liên lạc với Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 52 ở Pa Ra Thiết.

Sư đoàn 31 diệt địch ở phum Sâm, làm chủ Am Púc, sau đó tiến thẳng lên Krết.

Ở phía nam, Sư đoàn 302 sau khi tiêu diệt quân Pôn-pốt ở khu vực nam Tà Nốt - Tà Âm đã phản công mãnh liệt, làm chủ đường 24 và tiến lên Tà Hiên phối hợp với Sư đoàn 10...

Để giành thắng lợi trong trận quyết chiến chiến lược tiến công giải phóng thủ đô Phnôm Pênh, Bộ chỉ huy liên quân Việt Nam - Cam-pu-chia chủ trương như sau:

- Kết hợp giữa tiến công và nổi dậy, dùng sức mạnh tổng hợp nhanh chóng đập vỡ các tuyến phòng thủ của quân địch ở vành ngoài, mở cửa cho các binh đoàn chủ lực tiến công vào các mục tiêu chính trong thành phố.

Táo bạo chọc thẳng vào Phnôm Pênh, tiêu diệt các cơ quan đầu não, quét sạch quân địch ra khỏi thành phố, làm chủ thủ đô, kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến và binh vận, nhanh chóng xóa bỏ chính quyền Pôn-pốt, Iêng Xa-ri, thành lập chính quyền cách mạng.

 

Các hướng tiến công như sau:

- Hướng chủ yếu: Từ vùng giải phóng phía đông, tiến theo đường số 1 vượt sông Mê Công (đoạn phà Niếc Lương) đánh vào trung tâm Phnôm Pênh.

- Hướng thứ hai: Đánh chiếm khu nam và tây nam thành phố.

- Hướng thứ ba: Do Quân đoàn 3 đảm nhiệm tiến công, từ phía tây đánh vào sau lưng địch, chiếm khu bắc và tây bắc thành phố.

Các hướng tiến công đều nhằm vào hợp điểm cuối cùng là đài độc lập và bộ tổng tham mưu của Pôn-pốt, Iêng Xa-ri.

Trên hướng tiến công thứ ba, để hoàn thành nhiệm vụ Quân đoàn 3 phải vượt sông Mê Công giải phóng thị xã Công Pông Chàm, mở cánh cửa phía bắc chiến dịch.

Công Pông Chàm, một thị xã lớn của vùng đông Cam-pu-chia, nằm trên bờ tây sông Mê Công, từ lâu đã là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và đầu mối giao thông của vùng này. Từ đây theo quốc lộ số 6 đi về phía bắc đến Poi Pét giáp biên giới Thái Lan, theo đường số 7 về phía đông đi tới huyện lỵ Mê Mốt giáp Việt Nam; ngược dòng Mê Công lên phía bắc qua Kra-chi-ê tới đất nước Lào, xuôi về phương nam gặp dòng Tôn Lê Sáp vào Phnôm Pênh.

Mặt trước Mê Công là đoạn phà Công Pông Chàm rộng hơn 1 ki-lô-mét nước chảy xiết, hai bờ dốc đứng, đã trở thành chướng ngại tự nhiên lợi hại của địch.

Sau chiến thắng Suông - Chúp, mặc dù nhiều việc phải làm cùng một lúc như bám sát bờ sông Mê Công truy quét tàn quân địch, khẩn trương điều chỉnh đội hình chiến đấu, giải quyết chính sách thương binh tử sĩ, giúp bạn ổn định đời sống nhân dân.v.v. Đồng thời tìm hiểu dòng chảy của sông Mê Công và địa hình bờ phía tây, dự kiến những phương án tác chiến, những tình huống có thể xảy ra. Song song với những việc làm trên, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320 chúng tôi đã chỉ thị cho các đơn vị mở đợt sinh hoạt chính trị, rút kinh nghiệm. Những trận đánh hay, những người đánh giỏi được tuyên truyền ngay trên tờ tin "Quyết thắng" của sư đoàn. Dấu hiệu tư tưởng "dừng lại bên này sông Mê Công" vừa len lỏi vào đội hình lập tức bị đấu tranh gạt bỏ. Vấn đề chấp hành kỷ luật dân vận quốc tế, công tác địch vận... cũng được quan tâm. Tôi giao cho Phó Chính ủy sư đoàn Nguyễn Văn Thứ, Chủ nhiệm chính trị sư đoàn Lê Nông thường xuyên bám sát các đơn vị chỉ đạo nội dung sinh hoạt, công tác và kiểm tra chặt chẽ. Một vài hiện tượng sai trái được kịp thời phê phán, uốn nắn.

Ngay từ ngày 1 tháng 1 năm 1979, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 đã được lệnh phát triển tiến công đánh chiếm bến phà phía đông sông Công Pông Chàm để tạo thế. Dự đoán được những gì sẽ xảy ra ở đây, Bộ Tư lệnh sư đoàn tăng cường lực lượng xe tăng, pháo binh cho Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 và yêu cầu phải giữ chắc khu bàn đạp này. Từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 1 quân Pôn-pốt liên tiếp mở hàng chục đợt phản kích quy mô cỡ tiểu đoàn, trung đoàn vào trận địa Tiểu đoàn 1. Bộ binh của chúng bám dọc bờ sông cả hai phía đông và tây. Pháo lớn của địch từ bờ tây sông được sự chi viện tối đa bắn sang làm chiến hào công sự quân ta sạt lở, mặt đất biến dạng. Nhưng các mũi tiến công của địch đều bị đánh bật trở lại. Trưa ngày 4 tháng 1 năm 1979, Bộ Tư lệnh quân đoàn giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 320: "Vượt sông Mê Công, giải phóng thị xã Công Pông Chàm, đập nát mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng ngự phía bắc Phnôm Pênh, mở cửa cho lực lượng chủ lực tiến về giải phóng thủ đô ngay trong đêm mùng 4 rạng ngày 5 tháng 1 năm 1979". Lúc này Trung đoàn 48 thiếu Tiểu đoàn 1 đang tiến dọc theo đường 15 về hướng nam công kích thị xã Prây Veng, đội hình sư đoàn chỉ có 2 trung đoàn bộ binh là 64 và 52. Vì nhiệm vụ giải phóng Công Pông Chàm là rất khó khăn và cấp bách nên Bộ Tư lệnh quân đoàn quan tâm đặc biệt đến công tác chuẩn bị và bảo đảm cho Sư đoàn 320. Ngay trong những ngày Tiểu đoàn 1 chiến đấu quyết liệt với quân địch thì tôi và Tham mưu trưởng quân đoàn Lê Minh cùng với các đồng chí chỉ huy các trung đoàn và cơ quan đã ra bờ sông trực tiếp quan sát sự bố phòng của địch và lập phương án tác chiến vượt sông.

Chúng tôi chuẩn bị kế hoạch vượt sông bằng hai phương án:

Phương án một: Bí mật vượt sông bất ngờ đánh chiếm bờ tây sông và thị xã Công Pông Chàm, do Trung đoàn 52 đảm nhiệm.

Phương án hai: Vượt sông bằng sức mạnh do Trung đoàn 64 đảm nhiệm. Cụ thể: dùng Tiểu đoàn 9 bí mật vượt sông đánh chiếm bờ tây, mở rộng đoạn đổ bộ, tạo điều kiện cho lực lượng chủ lực của trung đoàn tiến công thị xã. Nếu không thành công sẽ dùng Tiểu đoàn 7 vượt sông bằng sức mạnh.

Tuy nhiên, phương án vượt sông với lực lượng bí mật có những điều không ổn. Bởi vì địch cũng đánh giá được vị tríquan trọng của thị xã đầu cầu này và trên thực tế chúng đã triển khai hệ thống hỏa lực, binh lực đông đặc, kiểm soát chặt chẽ mặt sông và phân đội cảnh giới từ xa cả hai bờ sông, nhằm phát triển đánh phá ngăn chặn lực lượng và phương tiện vượt sông của ta; mặt khác, vượt sông bằng phương tiện nào? Chắc chắn không thể dùng phao bơi, bè mảng nhỏ để đưa một lực lượng lớn qua sông rộng. Cách đó chỉ có thể đáp ứng cho các lực lượng trinh sát, đặc công... Chính từ sự phân tích trên, Bộ Tư lệnh sư đoàn chúng tôi quyết định giao cho Trung đoàn 52 chuẩn bị phương án vượt sông bí mật và đặt phương án khó nhất là phương án vượt sông bằng sức mạnh do Trung đoàn 64 đảm nhiệm. Tôi cho Sở chỉ huy sư đoàn rời khu vực Chúp lên gần bờ sông phía trước, tiện cho việc chỉ huy.

Cả sư đoàn lao vào trận đánh vượt sông gấp. 20 giờ trong ngày, Tư lệnh quân đoàn Kim Tuấn điện cho tôi:

- Sư đoàn được phép kéo dài thời gian chuẩn bị bảo đảm đánh chắc và tổ chức vượt sông vào đêm mùng 5 rạng ngày 6 tháng 1 năm 1979. Thời gian làm công tác chuẩn bị của Trung đoàn 64 chỉ có đêm mùng 4 và ngày 5 tháng 1. Bao nhiêu công việc tập trung vào khoảng thời gian eo hẹp ấy: trinh sát bến vượt, xây dựng quyết tâm, họp Đảng ủy, lập kế hoạch chiến đấu, giao nhiệm vụ cho các đơn vị, tổ chức hiệp đồng chiến đấu, kiểm tra và báo cáo... tất cả phải chính xác, khẩn trương kịp thời, hành động nhịp nhàng với các hướng khác của chiến dịch.

Sau này, đồng chí Vũ Cối, Trung đoàn trưởng Trung doàn 64 tâm sự với tôi: "Đây là trận thú vị nhất trong đời chiến đấu của tôi. Khi đã áp mép nước chỉ có một con đường vượt nhanh chiếm bờ phía địch, chiếm bằng được thị xã Công Pông Chàm làm chủ toàn địa bàn này, mở đường cho chủ lực quân đoàn tiến vào Phnôm Pênh".

Trung đoàn 64 được tăng cường 18 xuống máy, 4 xe tăng T54, 4 khẩu pháo 105 và 4 khẩu pháo cao xạ 57 ly, 4 khẩu pháo cao xạ 37 ly, 18 xuồng máy của Lữ đoàn công binh 249, Tiểu đoàn 5 Lữ đoàn công binh 7, cụm pháo 155 gồm 6 khẩu của Quân đoàn chi viện có nhiệm vụ vượt sông Mê Công đánh chiếm khu vực phòng ngự chủ yếu của địch ở thị xã Công Pông Chàm. Trung đoàn tổ chức thành 2 đoạn vượt sông. Đoạn vượt trực tiếp chính diện trận địa phòng ngự chủ yếu của địch ngay bến phà Công Pông Chàm do Tiểu đoàn 7 đảm nhiệm.

Suốt đêm 5 tháng 1, các phân đội công binh chuyển toàn bộ số thuyền máy hạ thủy an toàn. Nhân dân vùng mới giải phóng hỗ trợ cho Trung đoàn 64 kéo hàng chục khẩu pháo vào trận địa trên đoạn đường dài gần 5 ki-lô-mét. Trong khi ấy pháo địch bắn như vãi đạn đoạn từ đầu cầu Khmung trở ra bến sông. Mặt đất bị cày xới nham nhở. Những vạt rừng cháy sém, cây cối nát nhừ vì lửa đạn.

2 giờ sáng ngày 6 tháng 1, địch bí mật đưa một tiểu đoàn từ phía đông bắc vượt sang tây nam mở đường xen kẽ giữa Tiểu đoàn 9 và Tiểu đoàn 1 chừng hơn 1 ki-lô-mét, kết hợp với lực lượng địch còn lại và các loại hỏa lực bên bờ đông, bất ngờ đánh mạnh vào sườn Tiểu đoàn 1. Bộ đội ta một mặt giữ chắc tuyến công sự, mặt khác tổ chức những mũi xuất kích ngắn găm vào bên sườn, phía sau đội hình của chúng. Trước tình huống này tôi điện cho anh Vũ Cối nhắc: "Trung đoàn 64 được tăng cường 9 xuồng máy và được các trận địa pháo trực tiếp chi viện, dùng hành động vượt sông bằng sức mạnh dưới sự yểm hộ trực tiếp bằng hỏa lực của sư đoàn".

Đoạn vượt sông bí mật cách xa Tiểu đoàn 7 chừng hơn một cây số về phía bắc do Tiểu đoàn 9 đảm nhiệm được tăng cường 9 xuồng máy và một tiểu đội trinh sát sư đoàn dẫn qua sông. Khi Tiểu đoàn 9 bám được bờ phía tây sông Mê Công, lập tức hỏa lực sư đoàn đánh mạnh vào địch và Tiểu đoàn 7 đồng loạt vượt sông, cùng Tiểu đoàn 9 đánh chiếm bãi đổ bộ và mở rộng liên lạc với nhau bảo đảm cho các lực lượng dự bị vượt tiếp.

 

4 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 9 bắt đầu vượt sông theo phương pháp bí mật. Địch phát hiện, chúng dùng hỏa lực dày đặc quét trên mặt sông. Trong vòng 15 phút, 6 trên 9 thuyền máy vượt sông bị thủng, hàng chục cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 9 hy sinh. Bến vượt bị địch kiểm soát. Lúc này, phía Tiểu đoàn 1 cuộc chiến đấu càng trở nên quyết liệt. Tôi lệnh cho Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 52 dâng đội hình chiến đấu phối hợp với Tiểu đoàn 1.

Thấy không thể thực hiện kế hoạch bí mật vượt sông như đã dự kiến, tôi báo cáo anh Nguyễn Quốc Thước - Phó Tư lệnh quân đoàn, người theo dõi trực tiếp và ra lệnh cho chỉ huy Trung đoàn 64 thực hiện phương án vượt sông bằng sức mạnh.

Trời sáng dần. Bằng mắt thường đã phát hiện các mục tiêu chính bên kia sông. Từ giờ phút này trở đi đường dây liên lạc với Trung đoàn 64 và các trận địa pháo được lệnh ưu tiên số một.

5 giờ 45 phút, tôi lệnh pháo bắn chuẩn bị. Trong khi các cô pháo 155 cầu vồng chụp xuống trung tâm chỉ huy của dịch, thì từ các trận địa pháo bắn thẳng dồn dập vào tuyến công sự sát mép nước của địch. Xe tăng T54 cùng tiến ra bờ sông dùng pháo 100 ly tham gia. Trong lịch sử chiến đấu của sư đoàn có lẽ chưa bao giờ thấy mật độ hỏa lực tập trung và có hiệu quả như thế. Những tiếng nổ chồng lên nhau, kéo dài, rền vang. Hai chiếc ca nô lớn của địch bị bắn cháy ngay từ loạt đạn đầu. Lửa và khói cuộn lên, che lấp tầm nhìn của quân địch. Bầu trời Công Pông Chàm ngập trong biển lửa, các tuyến hỏa lực sát mép nước và bờ đối diện bị đập nát, sở chỉ huy của tướng Xon Xen bị trúng đạn rối loạn.

6 giờ 30 phút Trung đoàn trưởng Vũ Cối hạ lệnh vượt sông. Mũi đột kích đánh chiếm đầu cầu do Đại đội 3 Tiểu đoàn 7, dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn phó Nguyễn Văn Điều và Đại đội trưởng Nguyễn Đức Thại nhanh chóng lên 4 xuồng máy nhằm thẳng bờ bên địch xốc tới.

Cuộc vượt sông bằng sức mạnh bắt đầu. Rời bờ được vài chục sải nước thì một thuyền đột ngột chết máy. Loay hoay mãi không chữa được, đành phải bơi tay dạt vào bờ. Đại đội 3 chỉ còn lại 3 thuyền.

Sau cơn choáng váng vì pháo ta, địch bắt đầu hồi lại, chúng phát hiện được những chiếc thuyền đang lao như tên trên sông. Súng địch phát hỏa, bước đầu còn chệch choạc, về sau càng dồn dập. Ra giữa sông, mới thấy khoảng cách còn lại là lớn. Những khoảng cách trong chiến tranh không chỉ đo bằng đơn vị chiều dài thông thường, hệ số bom đạn đã nhân lên gấp bội. Dưới những trái đạn pháo 85 ly, ĐKZ, những chùm 12,7 ly, đại liên, súng cối các loại... mặt sông oằn lên sôi sục, không còn cách nào khác là phải nhằm thẳng vào những họng súng địch và tăng hết tốc độ. Qua máy PRC Đại đội trưởng Nguyễn Đức Thại yêu cầu tiểu đoàn diệt những hỏa diễm lợi hại. Cách bờ chừng một trăm mét chiếc thuyền thứ hai trúng đạn, một chiến sĩ hy sinh. Tiểu đoàn phó Nguyễn Văn Điều bị thương. Chiếc thuyền vẫn quả cảm lao thẳng vào bờ phía địch, rồi thuyền của Thại cũng trúng đạn, thủng hai lỗ. Bình nhất Vũ Mạnh Tuấn cởi áo bịt chỗ thủng. Đã tới tầm sửdụng hỏa lực, bộ đội ta nổ súng quét mạnh vào quân địch dọn vị trí đổ bộ. Một tốp địch lợi dụng kè đá nhảy xuống mấy công sự sát mép nước. Chúng lựa thế dùng khẩu 12,7 ly, bên trái khẩu ĐKZ của địch cũng vừa nạp đạn. Nhưng cùng một lúc hai chớp lửa đạn của ta từ các thuyền chụp xuống.

Từng chùm đạn bật theo, chớp sau kè đá. Mũi thuyền gắn vào bờ cát ướt. Chiến sĩ ta nhảy qua mép nước áp vào bờ. Hoảng hốt, một số tên địch tháo chạy ngược lên. Thại nhảy tới, chụp khẩu ĐKZ quay nòng. Nhưng nó đã bị hỏng kính ngắm. Anh "bắn vo" năm quả đạn và liên tiếp diệt các hỏa điểm địch. Trung đội trưởng Nguyễn Ngọc Phương dẫn các chiến sĩ chiếm từng gò đất, gốc cây. Một khẩu đại liên địch lợi dụng cây thốt nốt đổ, bắn cày tung mặt đường trước mặt. Hai chiến sĩ ngã xuống. Trung đội bị chững lại. Hạ sĩ Đinh Xuân Khoa bám theo vạt cỏ thấp bò sang trái. Hiểu ý bạn, Nguyễn Đình Phùng dùng khẩu PRĐ bắn thu hút. Khoa cứ nhích dần lên. Đến khi khẩu đại liên địch không còn vật che khuất nữa và nòng súng của Khoa đã hướng dọc thân cây thốt nốt thì lại bị gò đất trước mặt chắn mất tầm bắn. Quả M.79 nổ bên cạnh, mặt Khoa máu chảy tràn qua mắt. Khoa vuốt mặt, lựa thế đứng bật dậy, bắn quả B.40 nổ trùm lên khẩu đại liên. Khoa cũng ôm ngực khuỵu xuống. Nguyễn Đức Thại, Nguyễn Ngọc Phương dẫn bộ đội băng qua đường.

Ở phía nam, tuy bị thương nhưng Tiểu đoàn phó Nguyễn Văn Điểu vẫn chỉ huy bộ đội đánh bật địch ra, lần lượt chiếm từng dãy công sự.

Với tỉnh thần quả cảm, Đại đội 3 với vài chục tay súng đã hoàn thành nhiệm vụ, đánh chiếm đoạn đổ bộ chừng 300 mét.

Ngay từ khi Đại đội 3 vừa chiếm được dãy công sự vành ngoài Tiểu đoàn trưởng Kiểu Bảo và Chính trị viên Nguyễn Văn Hội đã chỉ huy bộ đội vượt sông tiến vào đoạn đột phá Đại đội 3, mở rộng bàn đạp. Bất chấp bom đạn, các chiến sĩ công binh nhanh chóng hạ thủy ghép phà. Xe tăng PT76 tự vượt sông trực tiếp chi viện cho các đơn vị bộ binh và các loại binh khí kỹ thuật khác cũng lần lượt sang sông, tiếp đến là Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn 9 vượt sông tiến thẳng vào thị xã Công Pông Chàm.

Cũng trong lúc này ở Sở chỉ huy sư đoàn, tôi báo cáo Tư lệnh quân đoàn Kim Tuấn:

- Báo cáo anh, Tiểu đoàn 7 đã chiếm được một đoạn bờ sông, phía tây, Tiểu đoàn 9 đang tiếp tục sang sông. Địch chống trả mạnh. Bộ đội đang mở rộng đầu cầu! Tôi nhớ... 07 giờ 30 phút...

10 giờ 30 phút là giờ hiệp đồng trong mệnh lệnh chiến đấu của Tư lệnh quân đoàn: - Sư đoàn 320 phải làm chủ thị xã để mở cửa cho Sư đoàn 10, lực lượng thọc sâu chiến dịch của quân đoàn vượt sông tiến vào giải phóng Phnôm Pênh.

Tới bờ, chỉ huy Trung đoàn 64 ra lệnh cho Tiểu đoàn 7 thọc sâu chia cắt địch, nhanh chóng đánh vỡ thế trận phòng ngự của địch. Để tăng cường sức mạnh tiến công, tôi lệnh cho Trung đoàn 64 cho Tiểu đoàn 9 và Tiểu đoàn 8 vượt sông.

Sau gần một giờ, Tiểu đoàn 8 đã vượt sông và thọc sâu chia cắt địch thành hai mảng, bắc và nam. Ở cả hai mảng này, Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 9 sau khi đổ bộ đã nhanh chóng tổ chức đội hình chiến đấu, đánh lui các mũi phản kích, dồn địch vào từng ngõ phố, căn nhà. Địch chạy túa ra, gặp lực lượng phía sau của ta chà đi xát lại.

10 giờ ngày 6 tháng 1 năm 1979, thị xã Công Pông Chàm được giải phóng, cửa vào Phnôm Pênh khai thông. Sư đoàn 10, lực lượng thọc sâu quân đoàn ào ào vượt sông nhằm thẳng hướng Phnôm Pênh tiến tới.

Trên hướng tiến công của Sư đoàn 10, Trung đoàn 28 lần lượt nhổ tung các tuyến phòng thủ của địch ở ngã ba Xơ Kin, chiếm dây Phu Chê vượt sông Tôn Lê Sáp diệt địch, đánh chiếm các mục tiêu: nhà máy xay, nhà máy cơ khí, kho súng đạn... rồi phát triển sang phía đông chiếm bộ tổng tham mưu của quân đội Pôn-pốt, Iêng Xa-ri, bắt liên lạc với binh đoàn bạn ở hướng tiến công chủ yếu của địch.

11 giờ 30 phút ngày 7 tháng 1 năm 1979, thủ đô Phnôm Pênh hoàn toàn được giải phóng. Lá cờ năm ngọn tháp vàng của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia phần phật tung bay trên đỉnh cột cờ hoàng cung, chấm dứt chế độ diệt chủng phản dân hại nước của tập đoàn Pôn-pốt, Iêng Xa-ri.

Trận vượt sông Mê Công bằng sức mạnh giải phóng thị xã Công Pông Chàm mở cửa cho trận quyết chiến chiến lược là biểu hiện của tinh thần quán triệt nhiệm vụ, ý thức được thời cơ, đánh giá đúng địch và ta, nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, khẩn trương tổ chức bộ đội, chọn phương án và cách đánh thích hợp. Nhanh chóng đánh vỡ địch bằng đòn thọc sâu chia cắt, tổ chức lực lượng đủ mạnh để vu hồi phối hợp chặt chẽ với tiến đánh chính diện và cách đánh địch trong thành phố, thị xã được Trung đoàn 64 thực hiện thành công. Sư đoàn đã tổ chức hiệp đồng chặt chẽ giữa bộ binh, pháo binh, xe tăng với công binh, vượt sông Mê Công hành tiến trong khi bờ đối diện địch tổ chức phòng ngự chặt chẽ có binh lực, hỏa lực mạnh để đối phó, ngăn chặn đội hình vượt sông của ta.

Vượt sông bằng sức mạnh là hình thức chiến đấu hết sức phức tạp, đòi hỏi công tác tổ chức và nghệ thuật chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng ăn khớp và kiên quyết, hành động chiến đấu của bộ đội giỏi, hết sức dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, Điều đó cũng chứng tỏ sự trưởng thành và tài nghệ chỉ huy của cán bộ các cấp, trình độ chiến đấu của bộ đội. Trận vượt sông bằng sức mạnh là một bài học kinh nghiệm quý báu cho sư đoàn trong nhiệm vụ huấn luyện và chiến đấu sau này.

Sau khi giải phóng Công Pông Chàm, Sư đoàn đứng chân tại đây thực hiện nhiệm vụ giữ bàn đạp. Ngày 23 tháng 1 năm 1979, Sư đoàn 320 nhận được lệnh tiến về tây nam Phnôm Pênh đánh địch mở thông quốc lộ 3, cùng các đơn vị bạn giải tỏa thị xã Tà Keo.

 

Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề. Ý thức được như vậy nên Tư lệnh quân đoàn Kim Tuấn trực tiếp theo dõi, chỉ huy sư đoàn. Sự có mặt của anh trong gần nửa tháng trời trên mặt trận đường số 3 là chỗ dựa tin cậy cho Bộ Tư lệnh sư đoàn đồng thời khích lệ tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ sư đoàn chúng tôi.

Đường số 3 từ Phnôm Pênh theo hướng tây nam qua núi Tượng Lăng xuôi về cảng Xi-ha-núc, song song với nó về phía đông chừng hơn 10 ki-lô-mét len lỏi giữa vùng đồi núi kéo dài từ bắc xuống nam, tạo thành vành đai chiến lược của tàn quân Pôn-pốt.

Sau cơn choáng váng, ngày 7 tháng 1, tàn quân các sư đoàn 210, 250, 270 và 805 đã hồi lại và tụ tập về đây. Hệ thống chỉ huy từ cơ sở trở lên còn khá nguyên vẹn, đứng đầu quân khu tây nam là Tà Mốc, một trong những nhân vật chóp bu của Khơ-me đỏ ở Cam-pu-chia.

Trước ngày 26 tháng 1 năm 1979, trong khu vực Sư đoàn 320 đảm nhiệm, địch bố trí cụ thể như sau:

- Sư đoàn 805 ở khu vực núi Pấm, núi Đất trở lên, có hai trung đoàn đứng chân ở nam sông Tà Nốt, đối diện với hai Trung đoàn 48 và Trung đoàn 64. Sư đoàn 210 ở khu vực núi Đất xuống Sa La kéo về hướng tây núi Srông. Sư đoàn 270 đứng chân ở Svat Tông kéo xuống Sa La Ku trở vào khu vực núi Srồng. Sư đoàn 250 đảm nhiệm khu vực từ ngã tư Ăng Ta Som trở về hướng đông tới tây nam và tây bắc thị xã Tà Keo.

Địch đã hoàn toàn kiểm soát đường số 3 đoạn từ sông Tà Nốt tới Ảng Ta Som. Chúng có khả năng tổ chức những trận phản kích quy mô trung đoàn đến sư đoàn.

Lính Pôn-pốt đánh hơi rất nhạy và triển khai đội hình phân đội nhỏ khá nhanh. Chiều ngày 26 tháng 1 (tức ngày 28 Tết âm lịch), khi Trung đoàn 64 chân ướt chân ráo tới Khăm Pong Tươi thì sư đoàn 805 tổ chức bu bám ngay. Lính áo đen lợi dụng bờ ruộng và hàng cây lúp xúp nổ súng vào quân ta. Bám sát từng ngôi nhà, từng mô đất, Tiểu đoàn 7 lần lượt đánh bật từng trung đội địch. Chúng phải bỏ lại hàng chục xác chết, tháo chạy về phía đông nam.

Đại đội 10 Tiểu đoàn 9 bám theo con lộ nhỏ đuổi sát nút và diệt một trung đội địch, chiếm phum Cầu Gỗ. Nửa giờ sau, một tiểu đoàn địch chia làm 3 mũi phản kích quyết liệt vào trận địa Đại đội 10 và Đại đội 11. Chúng xen kẽ vào giữa hai đại đội này, cắt đứt đường dây điện thoại. Mặc dù được pháo 105 ly và cối 120 ly chi viện, nhưng đến tối ta cũng không nhích được đội hình lên chi viện cho Đại đội 10.

 

Mờ sáng hôm sau, địch rời công sự, hò hét nổ súng hòng nhổ chốt Đại đội 10 tại phum Cầu Gỗ. Từ phía sau và bên sườn, Tiểu đoàn 8 và xe bọc thép M.113 của ta đã vây bọc lại. Tiến lui đều không còn đường, địch bị đánh bật ra cánh đồng trống, ta dùng mìn định hướng và cối 82 tiêu diệt. Đây là chiến công đầu tiên trên chiến trường của Trung đoàn 64 đón chào xuân mới - mùa Xuân Kỷ Mùi.

Ngay chiều hôm đó, sư đoàn 805 phái một tiểu đoàn bộ binh và 3 xe M.113 áp sát Tiểu đoàn 7. Nhưng lực lượng địch bị Trung đoàn 64 đánh tan ngay buổi sáng hôm sau.

Trên hướng tiến công chủ yếu, Trung đoàn 48 đã giải phóng đoạn từ nam Khăm Pong Tươi tới Lô Ven. Địch lùi từng bước, ngăn chặn ta ngày càng quyết liệt hơn. Tốc độ tiến công của ta mỗi lúc một chậm lại. Bộ Tư lệnh sư đoàn chúng tôi nhận định: địch đã kiểm soát đường số 3 chặt chẽ bằng thủ đoạn chốt cứng ở địa hình có lợi, kết hợp với lực lượng hỗ trợ ở hai bên đường đặc biệt là phía tây có lợi thế rừng rậm, núi cao; ta đánh mạnh, chúng lui, ta dừng lại, địch bu bám quấy nhiễu ngay. Địch quen thuộc địa hình, tổ chức chiến đấu phân đội nhỏ nhanh "tản ra" và "tụ lại" nhanh. Bởi vậy ta phải bí mật đưa lực lượng vào bên sườn phía sau quân địch để chia cắt. Tổ chức lực lượng chính diện đủ mạnh bằng cách tăng cường xe tăng - thiết giáp, đánh chắc tiến chắc, đánh đến đâu quét sạch đến đó, đánh đến đâu giữ chắc đến đó và tổ chức thông đường an toàn. Chúng tôi giao cho Trung đoàn 52 đứng chân phía sau trên trục đường 3 làm lực lượng dự bị nối thông đường bảo đảm hành lang, giúp bạn ổn định đời sống nhân dân.

Sau khi đi trinh sát về, Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu Hạ quyết định đánh địch trên đoạn đường từ Lô Ven tới núi Đất. Đoạn này dài gần 10 ki-lô-mét do 2 tiểu đoàn thuộc sư đoàn 805 phòng giữ. Địch rải một tiểu đoàn từ Lô Ven trở xuống, riêng khu vực núi Đất do 1 tiểu đoàn được tăng cường hỏa lực có công sự bằng gỗ đất đảm nhiệm.

Phương án chiến đấu của Trung đoàn 48 là dùng Tiểu đoàn 2 luồn sang phía tây, đánh vào cụm địch ở núi Đất, Tiểu đoàn 1 cắt sang phía đông đường phía nam núi Đất hình thành mũi tiến công thứ hai. Đây cũng là mũi chia cắt địch ở núi Đất với đội hình phía sau của chúng ở Sa La. Tiểu đoàn 3 được tăng cường 4 xe tăng T54 và 4 M.113 là lực lượng tiến công chủ yếu dọc quốc lộ số 3.

 

Đêm giáp Tết, trời tối, bộ đội lặng lẽ tiếp cận mục tiêu. Người sau bám người đi trước. Đài vô tuyến tắt máy giữ bí mật. Trung đoàn huy động cả dây thông tin dự bị để nắm 2 tiểu đoàn phía trước.

Trời sáng dần. Sương giăng mờ mịt núi Đất. Trịnh Xuân Lan nói với Chính trị viên Nguyễn Văn Nhiệm:

- Kiểu này không đánh pháo được đâu. Làm thế nào bây giờ?

Nhiệm nói:

- Dùng hỏa lực bản thân thôi.

- Đúng! Ta dùng hỏa lực bản thân địch sẽ hoàn toàn bị bất ngờ.

Khẩu ĐKZ 82 của địch bị Đỗ Quang Thân dùng B.40 tiêu diệt. Thân ôm súng lăn sang phải, đứng dậy. Khẩu 12,7 ly của địch quạt vào đội hình Đại đội 6. Đỗ Quang Thân ngã xuống... Bùi Xuân Hến khoác AK vào lưng trườn lên gỡ khẩu B.40 từ tay Thân, Bùi Xuân Hến lại ngã... Lợi dụng lúc ĐKZ từ phía sau Đại đội 7 phát hỏa, Ngô Ngọc Phú đứng dậy dùng B.40 bắn rất nhanh. Khẩu 12,7 ly tắt ngấm.

 

Tiểu đoàn 1 đã chiếm được vườn xoài. Từ địa thế cao, quân ta bắt đầu khống chế ngã ba núi Đất. Địch đang loay hoay đối phó với hai mũi tiến công ở bên sườn, phía sau thì Tiểu đoàn 3 cùng xe tăng, thiết giáp đột kích mãnh liệt từ Lô Ven xuống.

10 giờ ngày 27 tháng 1 năm 1979, hai tiểu đoàn địch chốt giữ từ Lô Ven đến núi Đất bị đánh tan.

Sư đoàn 320 liên tục chiến đấu, đẩy lùi các sư đoàn 805, 210 và 270 tới Svây Tông với chiều dài gần 50 ki-lô-mét, cắt sư đoàn 805 ở phía đông đường số 3 với phần lớn lực lượng; quân khu tây nam địch ở phía tây và tây nam. Để gỡ lại thế trận, địch chủ trương tìm chỗ "mềm nhất" trong đội hình hành tiến của ta, tập trung lực lượng đục thủng để cứu vãn thế bị cô lập cho sư đoàn 805, đồng thời chia cắt chiều dài tiến công của ta để dễ bề chiếm lại đoạn đường 3 đã mất. Theo chúng, nơi "mềm nhất" là ngã tư Sa La.

Chiều ngày 3 tháng 2, sở chỉ huy sư đoàn vừa dừng chân tại dây, địch tung trinh sát, bám ngay. Ban đêm địch áp sát trận địa ta, hì hục đào công sự. Tôi diện nhắc Trung đoàn 48 và Trung đoàn 64:

-  Giữ chắc Svây Tông, tiếp tục tiến công, sẵn sàng dùng 2 tiểu đoàn quay lại yểm trợ cho Sở chỉ huy sư đoàn.

 

Tôi giao cho anh Trần Ngọc Chung Sư đoàn phó trực tiếp chỉ huy một số đơn vị cản phá quân địch, bảo vệ ngã tư Sa La - một mắt xích khá quan trọng trong đội hình hành tiến của sư đoàn.

Sáng ngày 4 tháng 2, địch tổ chức tiến công. Chúng đánh khá bài bản. Pháo bắn dọn đường cho bộ binh và xe tăng, xe bọc thép xông vào trận địa ta. Sau hai giờ chiến đấu với 2 tiểu đoàn địch có xe tăng thiết giáp yêm hộ, Đại đội 1 Tiểu đoàn 4 hết đạn, phải lùi về sát Sở chỉ huy sư đoàn.

Bọn địch ở phía tây Sa La hò hét trong máy bộ đàm "bắt sống bọn chỉ huy". Phía tây, các sĩ quan phòng chính trị và Đại đội 1 bám công sự chờ địch; xe tăng PT76 và xe bọc thép M.113 của ta vẫn án binh bất động. Chưa thấy ta xuất hiện, hỏa lực chống tăng địch cho rằng "đây đúng là chỗ mềm nhất". Pháo lại bắn, xe tăng T58 hùng hổ lao vào. Trợ lý cán bộ Nguyễn Thanh Trường xách B.40 trườn lên. Quả đạn đầu tiên hớt khẩu 12,7 ly trên tháp pháo. Quả thứ hai hụt tầm nổ trước mũi chiếc T58. Tuy kết quả không cao nhưng hai phát B.40 của Trường cũng đẩy xe tăng địch lùi ra.

 

Ở hướng đông Sa La, ta và địch giành đi giật lại cả buổi sáng, hơn một tiểu đoàn địch vượt qua bờ đập phía nam phum Sóp Hy lách vào sườn Đại đội 2 Tiểu đoàn 17 công binh. Xạ thủ B.40 hy sinh, Trung đội trưởng Dương Văn Thanh bám dọc bờ cỏ bắn liền hai phát, hốt đi một mảng địch. Chúng lại tràn vào. Dương Văn Thanh hy sinh. Địch bu lại, Nguyễn Văn Lý nâng quả mìn clâymo. Lý điểm hỏa. Mìn nổ, Lý nhô lên mặt đập, ngơ ngác lẩm bẩm khi thấy Pôn-pốt bắt cả trẻ 14, 15 tuổi vào lính.

Sở chỉ huy sư đoàn chúng tôi cách trận địa vài trăm thước vẫn bình tĩnh lạ thường.

Từ sáng đến chiếu các chiến sĩ bảo vệ Sa La đều thấy một người lính già cao và gầy khắc khổ tay kẹp súng tiểu liên bình thản đến chỗ này, chỗ khác, điều chỉnh động viên và chỉ huy cả bộ binh, cơ quan và xe tăng chiến đấu. Người lính già ấy là Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn thiết giáp 273 Trần Doãn Kỷ.

11 giờ 30 phút, từ phía nam Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 do đồng chí Nguyễn Quang Vinh, Trung đoàn phó chỉ huy và từ phía bắc Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 52 do đồng chí Dương Văn Niên, Trung đoàn trưởng chỉ huy cùng xe tăng, xe bọc thép tiến về hợp vây địch, cùng các phân đội bảo vệ sở chỉ huy từ trong đánh thốc ra kẹp vào giữa.

 

16 giờ ngày 4 tháng 2, cuộc phản kích của địch quy mô trung đoàn tăng cường bằng hiệp đồng binh chủng vào khu vực ngã ba Sa La đã hoàn toàn bị bẻ gãy.

Trận ngã ba Sa La một lần nữa khẳng định: quân khu tây nam địch còn khá đông lực lượng và nhiều binh khí kỹ thuật nên chúng rất ngoan cố. Như mọi đơn vị lính Pôn-pốt khác, sở trường của chúng là: "tránh mạnh, đánh yếu, bảo toàn lực lượng". Tinh thần chiến đấu của địch cơ bản bạc nhược, chúng đã vét cả trẻ con và lính ra trận. Tuy nhiên, bọn ác ôn đầu sỏ và số bị đầu độc nặng tỏ ra rất lì lợm, ngoan cố.

Lính áo đen phát huy lợi thế quen thuộc địa hình và chiến thuật phân đội nhỏ cài cắm xen kẽ quanh trận địa của ta. Có khu vực, lính Pôn-pốt thay đổi thủ đoạn vài ba lần trong một giờ. Chúng đã chiếm lại được Svây Tông, rồi lại bị ta đánh bật ra bằng trận hợp vây của Trung đoàn 52 và Trung đoàn 64, loại khỏi vòng chiến đấu một tiểu đoàn địch.

Chúng tôi chỉ đạo các đơn vị luồn ém vào bên sườn phía sau, cất dịch trên đường ra từng đoạn, đánh dứt điểm nhanh gọn. Địch đã "bỏ ngỏ" đường 3, "dàn hàng ngang" thành nhiều tầng để tránh bị tiêu diệt gọn và phát hiện ngăn chặn lực lượng ta. Bộ Tư lệnh sư đoàn chúng tôi chủ trương thay đổi cách đánh: Dùng hai trung đoàn quét sạch hai bên, buộc địch nằm trên đường "trơ ra", sau đó dùng lực lượng vừa đủ để thông đường.

Ngày 6 tháng 2, Trung đoàn 48 và Trung đoàn 64 quét địch đang gom dân trên đoạn Svây Tông đến Sa La Kom. Do phân tán mỏng nên khi bị gom lại, lực lượng tuy đông nhưng phải thoát ly công sự và ô hợp, địch không chịu được sức tiến công cấp tiểu đoàn và trung đoàn của ta. Hai cánh bị "chặt cụt", bọn địch rải từ Svây Tông xuống Sa La Ku bị Tiểu đoàn 7 đánh tan rất nhanh.

Sáng ngày 8 tháng 2 năm 1978, Trung đoàn 64 được tăng cường Tiểu đoàn 4, bốn xe tăng T54 và 6 xe M.113 tràn qua Ang Ta Nu, ồ ạt đánh chiếm Pô Tung Ơ, bắt liên lạc với Đoàn 20 từ phía đông nam. Trung đoàn 48 diệt địch ở Pa Ra Sung, tiến xuống chân Pa Lích nằm trên đường 33. Tiểu đoàn 7 tiến công hành tiến tiêu diệt gọn cụm địch ở Ăng Ta Som.

Cũng trong buổi sáng ngày 8 tháng 2 năm 1979 đáng ghi nhớ này, một trong nhiều cán bộ xuất sắc của sư đoàn đã anh dũng ngã xuống. Đó là Thượng tá, Phó Tư lệnh Trần Ngọc Chung. Anh đã anh dũng hy sinh khi trực tiếp chỉ huy hai Trung đoàn 48 và Trung đoàn 64 giải phóng Ăng Ta Som.

 

Đường số 3 đã được khai thông. Phnôm Pênh - Tà Keo được nối liền. Hàng ngày từng đoàn xe, từng chuyến hàng từ thủ đô tiếp tế cho tỉnh lỵ Tà Keo.

Trong 12 ngày chiến đấu liên tục, Sư đoàn 320 đã tiêu diệt 3 tiểu đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu 3 tiểu đoàn khác với hàng nghìn tên, bắt sống 425 tên khác, thu hàng trăm súng các loại, góp phần đánh bại âm mưu chiếm lại Ta Keo, dồn quân khu tây nam dịch vào vùng núi hiểm trở ở phía tây.

Khi các đơn vị của sư đoàn dang chiến đấu ở phía trước thì Trung đoàn 52 cùng với đội vũ trang công tác của bạn tỏa rộng ra hai bên đường, diệt những tốp địch quẩn lại quấy phá và đưa nhân dân trở về phum sóc của họ. Bộ đội ta truy lùng vào những vùng núi hiểm trở tìm kho lương thực của địch, giúp nhân dân vượt qua nạn đói. Một số người vì lầm đường, vì bị cưỡng bức đi làm lính Pôn-pốt đã tìm đường trở về quê cũ làm ăn. Lực lượng quân khu tây nam, nhất là sư đoàn 805 tan rã.

Riêng quân khu tây nam, sau khi bị ta đánh trên quốc lộ 3, bọn địch lùi về phía tây Ăng Ta Som, dựa vào dãy Pích Nin, Tượng Lăng và một loạt các điểm cao khác để xây dựng căn cứ, gom dân nhằm chống phá lực lượng cách mạng.

Bộ chỉ huy liên quân chủ trương: mở một đợt hoạt động mới đánh vào sào huyệt của quân khu tây nam, tiêu diệt và làm tan rã lực lượng địch, triệt phá kho tàng, binh khí kỹ thuật của chúng, mở rộng địa bàn giải phóng nhân dân, xây dựng chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương.

Trong bước một của chiến dịch này, Sư đoàn 320 được giao nhiệm vụ: phát triển tiến công dọc đường 33, chiếm ngã ba Tà Boong, khu vực bắc núi Tượng Lăng.

Nghiên cứu tình hình địch, Bộ Tư lệnh sư đoàn chúng tôi nhận thấy cần phải tổ chức hai trận đánh quyết định kế tiếp nhau: một trận trên đường 33; một trận ở đông bắc núi Tượng Lăng; Trung đoàn 64 và Trung đoàn 48 được giao nhiệm vụ này. Riêng Trung đoàn 52 đứng chân trên đường 3 bảo đảm hành lang cho sư đoàn.

Ngay sau khi chiếm được ngã tư Ăng Ta Som, Trung đoàn 64 đã truy kích địch về phía tây ngã ba Chen Tông. Đây cũng là quá trình trung đoàn hoàn thành công tác chuẩn bị tiến công Tà Nốt Chum - trận mở màn cho đợt hoạt động.

 

6 giờ sáng ngày 11 tháng 2, Tiểu đoàn 7 hành quân chiếm lĩnh. Khi tới vị trí đã quan sát được địch, ngay lập tức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 ra lệnh nổ súng. Được pháo binh chi viện, Tiểu đoàn 8 cùng xe tăng và xe thiết giáp đột kích dọc đường 33. Địch dựa vào công sự ngăn chặn dữ dội. Mãi đến 9 giờ, Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 9 mới chiếm được tuyến công sự vành ngoài. Địch dùng xe tăng và bộ binh "líp" lại ngay. Ta phải lui ra cánh đồng. Thấy Tà Nốt Chum bị uy hiếp, sư đoàn 210 điều một đại đội bộ binh cộng với một đại đội xe tăng từ Tà Boong đánh tạt sườn Tiểu đoàn 7. Tình hình trở nên phức tạp! Trung đoàn phó Bùi Văn Chuyển quyết định dùng Đại đội 3 Tiểu đoàn 7 và Đại đội 11 Tiểu đoàn 9 chia cắt Tà Nốt Chum với Tà Boong; tăng cường ĐKZ cho Đại đội 2 Tiểu đoàn 7 chặn đánh quân viện của sư đoàn 210. Thấy quân tiếp viện bị chặn đứng ngoài cánh đồng, xung quanh lại bị bao vây và đánh mạnh, địch hoang mang. Khi Đại đội 5 và xe tăng ta đã chiếm được tuyến công sự thứ hai thì xe tăng T58 địch vội vã quay đầu rút chạy, bộ binh của chúng chạy túa về phía Tượng Lăng vấp phải trận địa Tiểu đoàn 1. Đến 13 giờ, mũi phản kích của sư đoàn 210 bị đánh bại.

 

Ngày hôm sau, Trung đoàn 48 vận động bao vây tiến công liên tục - với sức đột kích chủ yếu của Tiểu đoàn 2, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu một tiểu đoàn khác của sư đoàn 210 ở sườn đông núi Tượng Lăng, diệt và bắt gần 150 tên, thu 114 súng các loại.

Thế là chỉ trong hai ngày, bằng hai trận đánh kế tiếp nhau, sư đoàn chúng tôi đã làm chủ đường 33, sườn đông và bắc núi Tượng Lăng. Mất Tà Boong, mất phía bắc núi Tượng Lăng, nghĩa là đường 42 và đường 34 bị uy hiếp - sườn đông sở chỉ huy của quân khu tây nam đã hở. Tình thế của chúng ngày càng khốn quẫn.

Về phía ta, ở các chốt phía trước thương vong của ta ngày một tăng. Sinh hoạt vật chất của bộ đội ngày một khó khăn. Khổ nhất là thiếu nước, có nơi ta và địch giành giật nhau mấy ngày để chiếm lấy hồ nước.

Ở điểm tựa Đại đội 1 Tiểu đoàn 7, một trung đội địch qua hai ngày không nhổ được chốt tổ 3 người của Phạm Hữu Hùng để chiếm hồ nước nhỏ. Phán đoán được thủ đoạn của địch, Hùng bàn với đồng đội gài mìn quanh công sự của mình rồi lợi dụng đêm tối bí mật phục kích ở bên sườn.

 

Đêm xuống, một tiểu đội địch bỏ vào. Hùng bấm mìn định hướng, địch bỏ chạy cuống cuồng. Mìn lại nổ! Chờ mãi không thấy động tĩnh gì khác ngoài tiếng kêu la của những tên bị thương, bọn địch phía sau thúc nhau lên. Mìn định hướng và trung liên lại nổ. Gần 20 tên địch phơi xác tại đây. Sau trận này, không một tên địch nào bén mảng vào khu vực này nữa.

Trên cánh đồng phía đông bản Dài, Đại đội 5 Tiểu đoàn 8 phải đương đầu với một tiểu đoàn địch suốt 7 ngày. Pháo cối địch giội xuống không ngớt, nhưng bộ đội ta vẫn trụ vững. Họ tin vào Tiểu đoàn trưởng Hoàng Văn Hoặc, anh luôn thay đổi chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu. Ở đại đội này, ai cũng nhắc đến xạ thủ trung liên Đặng Nhật Minh với tài bắn xuyên táo của anh, về tài ném lựu đạn chập đôi của Tăng Văn Lừ...

Những cuộc tập kích cỡ tiểu đoàn trở xuống không đem lại hiệu quả, ngày 10 tháng 3 năm 1979 sư đoàn 210 dùng xe ô tô chở gần một ngàn tên đổ xuống đông bản Dài. Với sự yểm trợ của pháo binh và 10 xe tăng T58 chúng định phản kích dọc đường 42 chiếm lại ngã ba Tà Boong.

 

Địch chưa kịp triển khai đội hình thì pháo binh Trung đoàn 54 đã giội xuống đầu chúng. Trong khi ấy, từ hai phía đông và tây đường 42, hai tiểu đoàn 7 và 9 vượt cánh đồng, hình thành thế bao vây chia cắt.

Ở tất cả các hướng bộ đội ta đồng loạt xung phong. Tiếng súng, tiếng hô dội vào vách đá Tượng Lăng, núi truyền lại rền vang...

Cuộc phản kích quy mô cấp trung đoàn của sư đoàn 210 nhằm vào ngã ba Tà Boong bị bẻ gãy.

Mười ngày sau, nhặt nhạnh tàn quân, sư đoàn 210 và 270 địch phối hợp mở một đợt phản kích cuối cùng vào đường 34 (phía bắc ngã ba Tà Boong), hơn một trung đoàn với hai chục xe tăng bị Tiểu đoàn 28 (huấn luyện chiến sĩ mới của sư đoàn) chặn đứng lại ngoài cánh đồng. Vừa thấy bóng dáng của Trung đoàn 48 và xe tăng ta, chúng đã bỏ cuộc, chạy về phía tây bắc.

Trên chiến trường tây nam Phnôm Pênh ta đã làm chủ các đường 33, 34, 42 - thế "bàn tay xòe" của địch đã bị bẻ gãy. Quân khu tây nam dồn lại vào thung lũng Pích Nin.

 

Sư đoàn 320 được giao nhiệm vụ tiêu diệt sở chỉ huy sư đoàn 250 địch ở khu vực điểm cao 151 (đông nam thung lũng Pích Nin).

Thực hiện quyết tâm trên, Bộ Tư lệnh sư đoàn chúng tôi lệnh cho Trung đoàn 64 củng cố thế đứng ở bắc núi Tượng Lăng, sẵn sàng đánh địch phản kích ra đường 42 và là lực lượng dự bị cho sư đoàn. Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52 xây dựng bàn đạp ở ngã ba Tà Boong đoạn từ bình độ 53 tới Săng Kê.

Liên tiếp trong hai ngày (23 và 24 tháng 3), Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 6 nổ súng tiến công địch ở dải bình độ 63 và 54 để tạo thế nhưng không thành. Tôi và Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48 Nguyễn Hữu Hạ lập tức xuống kiểm tra tại thực địa, phát hiện là do đơn vị nắm địch không chắc, tổ chức chiến đấu thiếu chặt chẽ, đánh dịch vỗ mặt từ xa nên không hiệu quả. Tôi chỉ thị: Ngay trong đêm 24 tháng 3. Trung đoàn 52 phải điều chỉnh đội hình và đưa thêm Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 có xe tăng vào chiến đấu. Sư đoàn phó Hà Xuân Bính được cử xuống trực tiếp chỉ huy trận đánh.

6 giờ sáng ngày 25 tháng 3 năm 1979, tôi ra lệnh nổ súng.

 

Tiểu đoàn 4 đuổi địch về phía tây dải bình độ 63, vượt qua suối Sa La nhằm tạo thế cho mũi tiến công chủ yếu, đồng thời chia cắt khu vực điểm cao 151 với sở chỉ huy quân khu địch ở thung lũng Pích Nin. Ở hướng phối hợp, Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 5 tiến đánh Tà Nát và bản Không Tên, chia cắt khu vực 151 với cụm địch ở thung lũng phum Ó. Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 52 cùng xe tăng, xe thiết giáp đảm nhận hướng tiến công chủ yếu, đồng loạt nổ súng và xung phong mãnh liệt.

Thoạt đầu địch bất ngờ, nhưng sau đó dựa vào địa hình thuận lợi chúng chặn đánh ta dữ dội. Suốt 5 giờ đồng hồ, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 6 phải đột qua hàng chục tuyến công sự mới bao vây được điểm cao 151.

Tham mưu trưởng Trung đoàn 52 Phạm Xuân Bưởng trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 6, bắt liên lạc được với Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1. Các anh nhận thấy, tuy trời gần tối, bộ đội lại qua một ngày chiến đấu liên tục đã mệt mỏi nhưng tinh thần khí thế tốt nên thống nhất: Tổ chức chiến đấu ngay và ra lệnh cho hỏa lực nổ súng. Pháo dứt, Đại đội 2 chọc qua tuyến công sự vòng ngoài, đột thẳng vào sở chỉ huy sư đoàn 250. Địch bỏ chạy về phía tây nam. Trong sở chỉ huy địch ngổn ngang xác chết và cả những chiếc M.113 còn nổ máy...

 

Từ điểm cao 151, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Nguyễn Minh Tác thấy ở dải bình độ 110 (tây nam điểm cao 151 chừng 2 ki-lô-mét) có mấy dãy nhà tôn lớn, nghe cả tiếng động cơ... Anh báo cáo về sư đoàn, tôi ra lệnh: Bao vâv các cụm địch còn lại, để Tiểu đoàn 6 rảnh tay diệt địch ở 110 vào ngày 26 tháng 3.

Không còn đường tháo chạy nên bọn địch ở khu vực 110 rất ngoan cố. Đại đội 9 đã chiếm được một dãy nhà, sau đó ít phút lại bị địch tập trung đánh rát, phải lùi ra. Tham mưu trưởng Phạm Xuân Bưởng quyết định dùng hỏa lực hỗ trợ để Đại đội 9 tiếp tục nổ súng thu hút. Tiểu đoàn phó. Nguyễn Đình Thanh ra lệnh:

- B.41 diệt ụ đại liên!

Vũ Minh Am nâng súng lên bắn hai phát. Khẩu đại liên câm bặt, ngôi nhà bị sạt một góc. Địch dồn sức định hất Đại đội 9 ra nương trống. Đại đội 2 và Đại đội 11 bất ngờ xuất hiện ở phía sau. Địch co dẫn lại trong những dãy nhà tôn. Đến 13 giờ quân ta làm chủ mục tiêu. Ta thu 30 khẩu pháo 122, 130, 155 ly, hàng ngàn khẩu súng khác và gần 100 tấn gạo, thóc.

 

Ngày hôm sau (27-3) các đơn vị tiếp tục truy lùng, diệt thêm hàng trăm tên, thu tiếp 7 pháo, 3 xe GMC, 1 xe bọc thép M.113.

Cũng trong ngày 26 tháng 3, đơn vị bạn đã đánh chiếm sở chỉ huy quân khu tây nam địch ở điểm cao 148. Toàn bộ thung lũng Pích Nin bị quân ta kiểm soát. Mọi cơ sở hậu cần, kho tàng của địch ở vùng này lọt vào tay quân ta. Hàng vạn người dân được giải phóng. Nhưng ở phum Ó, căn cứ cuối cùng của quân khu tây nam chưa bị diệt.

Thung lũng phum Ó được tạo thành bởi một loạt điểm cao 123, 242, 272 ở phía bắc; 143, 233, 246 ở phía tây; 222, 179 và 73 ở phía đông nam thung lũng đối diện với núi Tượng Lăng, địch bắt nhân dân đắp một con đập lớn nối liền các mỏm đồi từ đông bắc tới tây nam.

Để tạo điều kiện cho Trung đoàn 64 ở hướng đông nam, tôi lệnh cho Trung đoàn 48 nổ súng thu hút và tạo thế ở hướng bắc. Được pháo binh chi viện, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 diệt địch đánh chiếm các mỏm 272 và 143. Ở một số mỏm khác địch chạy dồn xuống thung lũng.

12 giờ, ở hướng đông nam, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 Bùi Văn Chuyển ra lệnh cho Tiểu đoàn 7 nổ súng. Đây chính là hướng khó khăn nhất của trận đánh. Địch có lợi thế chiếm được bờ đập và sườn núi cao. Quân ta, dù được xe tăng và pháo binh yểm trợ nhưng phải dừng lại cách mỏm 22, "cửa" vào thung lũng nửa cây số để xốc lại đội hình.

Sau khi chiếm được mỏm 272, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Phạm Đăng Sao chỉ huy bộ đội lần lượt chiếm các mỏm núi đá sát thung lũng. Địch bị hất xuống khe. Phát hiện cụm xe tăng, Đại đội trưởng Vũ Trọng Hà lệnh cho trung đội của Phạm Hữu Hằng vòng ra sau gờ đá đánh vào. Chiếc M.113 đầu tiên bị Hằng bắn cháy. Chiếc T58 địch quay nòng pháo lại. Trần Văn Thìn dùng súng B.40 bắn, chiếc T58 bén lửa rồi cháy bùng lên. Trong lúc ấy, Tiểu đoàn 2 của Nguyễn Văn Nguyên cũng chiếm được điểm cao 236. Địch lúc nhúc dưới chân núi đá. B.40, AK, lựu đạn của ta tới tấp quật xuống.

Từ các hướng khác bộ đội ta hò reo tràn xuống thung lũng. Tiếng súng, tiếng hô xung phong giội vào vách đá vang rên... Bọn địch cuống cuồng giẫm đạp lên nhau, bỏ cả xe tăng, súng đạn tháo chạy theo khe núi ở sườn tây nam điểm cao 222. Nhưng đơn vị bạn đã mai phục sẵn ở hướng này. Hai chiếc T58 đi đầu bị bắn cháy, tiến lui đều không còn đường, hơn một ngàn tên lính nộp súng đầu hàng, 8 chiếc xe tăng T58 khác cũng chịu chung số phận.

 

Chiến thắng phum Ó - đòn trí mạng giáng vào căn cứ quân sự cuối cùng của quân khu tây nam, làm cho địch vốn đã suy sụp về tổ chức, tỉnh thần càng thêm kinh hoàng bạc nhược. Trên thực tế, quân khu tây nam đã bị loại khỏi vòng chiến đấu.

Đã tròn ba tháng chiến đấu ở vùng Tượng Lăng - Pích Nin với hàng trăm trận đánh, Sư đoàn 320 đã cùng với đơn vị bạn từng bước đẩy lùi quân khu tây nam vào vùng núi non hiểm trở, tạo thế cho những trận đánh then chốt tiêu diệt sở chỉ huy quân khu, triệt phá kho tàng, tiêu diệt hàng ngàn tên, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều đơn vị địch. Một số tàn quân địch chạy thoát trong đó có tên Tà Mốc trà trộn theo dân chạy thoát khi dân báo tin thì Tà Mốc đã tẩu thoát.

Hoạt động quân sự của ta cuối mùa khô 1978-1979 đã đẩy các đơn vị của Pôn-pốt vào tình thế tuyệt vọng. Với bản chất cực kỳ phản động và ngoan cố, chúng chủ trương phân tán lực lượng vào rừng sâu, tiếp tục chống phá cách mạng bạn.

Bộ chỉ huy liên quân giao nhiệm vụ cho các lực lượng vũ trang tiến công vào các vùng rừng núi, tiễu trừ bọn tàn quân Pôn-pốt. Sư đoàn 320 được giao nhiệm vụ di chuyển từ nam núi Tượng Lăng về hoạt động ở vùng núi tây bắc Công Pông Xư Pư.

 

Đây là vùng thượng du làng bản thưa thớt, địa hình cao dẫn về phía tây với dãy Ki Ri Rom có mỏm cao hơn 700 mét, từ đây kéo về phía bắc - tây bắc cũng là vùng rừng núi trùng điệp nối liền với Kô Công, hướng đông bắc nối với rừng đại ngàn của tỉnh Puốc Xát, Bát Đom Boong... tiếp giáp với biên giới Thái Lan, tạo thành một ưu thế cho tàn quân Pôn-pốt. Sông Tà Nốt từ Ki Ri Rom chảy xuôi về phía đông - đông nam qua thị xã Công Pông Xư Pư ngăn vùng núi này với vùng dân cư đông đúc trên đường số 4 - tạo thành một vành đai cho tàn quân Pôn-pốt.

Lực lượng địch ở đây còn khá đông. Chúng là tàn quân của lữ đoàn bảo vệ sân bay Pô Chen Tông cùng nhiều đơn vị nữa bị ta đánh tan tác trên mặt trận đường số 3, đường số 4 Tượng Lăng - Pích Nin và quân khu tây nam. Tụ tập về dây, chúng khống chế được chừng 2 vạn dân, bắt họ lao động khổ sai và sẵn sàng đi làm bia đỡ đạn.

Cũng vào thời gian này, tin vui chiến thắng ở Âm Leng Phlếch... đặc biệt là tin Sư đoàn 31 của Quân đoàn 3 tiêu diệt căn cứ Tà Sanh - sào huyệt của trung ương Pôn-pốt giội về làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320. Một phong trào thi đua "Học tập các chiến sĩ Tà Sanh" dấy lên sôi nổi rộng khắp sư đoàn.

Ngày 17 tháng 5 năm 1979, Trung đoàn 52 cơ động bằng ô tô theo đường số 3, đường số 4 rồi dừng lại phía bắc thị xã Công Pông Xư Pư. Sau Trung đoàn 52 là Trung đoàn 48, Trung đoàn pháo binh 54, cơ quan sư đoàn bộ và Trung đoàn 64.

Từ phía bắc thị xã Công Pông Xư Pư bộ đội hành quân bộ. Tiểu đoàn 4 chạm địch đầu tiên bên một sườn núi đá (điểm cao 34), diệt hai tên, thu hai súng, bọn sống sót vội vàng tẩu thoát. Những ngày sau đó, Trung đoàn 52 và Trung đoàn 64 liên tục tổ chức những phân đội nhỏ truy lùng xung quanh khu vực đứng chân, dọc đường hành quân. Trong rừng chốc chốc lại rộ lên vài loạt súng, sau đó rừng lại lạnh tanh. Gặp lực lượng lớn của ta là địch luồn rừng, lẩn tránh ngay. Bọn tàn quân cứ quần áo cộc, chân đất, bươn rừng... thừa cơ ta sơ suất chúng nổ súng... Trong cuộc họp với cán bộ chủ chốt, tôi nói:

- Trước thủ đoạn mới của địch, ta phải tỏa rộng, có trọng điểm, bám sát vây chặt và đồng loạt xung phong mới trị được bọn này.

Anh Truy - Chính ủy nói thêm:

 

- Bây giờ thuật ngữ quân sự "truy quét" mới đúng nghĩa của nó, nhưng vô cùng phức tạp. Bọn địch trà trộn vào dân. Ta phải vận động quần chúng vạch mặt, truy tìm bọn đầu sỏ.

Đã 2 ngày bám sát Rô Mãng Sơ nhưng không gặp dịch, Chính trị viên dại đội trinh sát Nguyễn Văn Hoàng dẫn tổ cất xuống phía nam. Bỗng có tiếng động khác thường phía trước, rất nhỏ. Hoàng nép vào gốc săng lẻ. Anh đã nhìn thấy tên đi đầu, súng AK trong tay lăm lăm, tất cả bảy thẳng, giống hệt nhau: đi lẹ như chồn, mất đảo ra xung quanh. Chúng vòng xuống khe, chui vào một túp lều bỏ hoang. Mười lăm phút sau, chừng không thấy động tĩnh gì, tên lính gác cũng sà vào đống lửa. Cả bọn súng vẫn cầm tay, hếch mặt ra ngoài. Hoàng ra lệnh, ba loạt AK gần lên. Không có tên nào chạy thoát.

Tuy nhỏ, nhưng là trận đánh tiêu diệt gọn của tổ ba người Nguyễn Văn Hoàng. Tìn chiến thắng lan nhanh trong sư đoàn.

Ngày hôm sau Dương Đình Hồi dẫn trung đội (Đại đội 9 Tiểu đoàn 3) đi mai phục. Dầm mình trong mưa cả ngày, nhọ mặt người, chừng một trung đội địch men theo bờ sông đi về phía bản. Ba người bứt lên, nổ súng chặn đầu. Đúng như dự đoán của Hồi, địch bật trở lại vòng qua sườn núi đá. Quân ta đã phục sẵn. Địch quăng súng, lăn xuống khe. Bộ đội ta ném lựu đạn. 14 tên bị diệt. Số khác chạy bạt mạng sang sườn núi bên kia, Đại đội 10 đã chờ sẵn, nổ súng không một tên chạy thoát.

Sau 10 ngày hoạt động, do ta truy lùng mạnh nên khu vực Rô Măng Sơ và tây bắc Ki Ri Rom căn bản đã hết địch, cần phải chuyển hướng về đông dãy Ki Rị Rom. Nhận định như thế nên tôi điều Trung đoàn 52 từ tây bắc Ki Ri Rom xuống phía nam, ép vào các vùng lõm của dãy núi này. Trung đoàn 48 truy lùng địch ở khu vực núi Veng, dọc theo hai bên sông Tà Nốt. Riêng Trung đoàn 64 vẫn đứng chân ở Rô Măng Sơ Choa. Trung đoàn 54, Tiểu đoàn 17, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn công binh 7 của quân đoàn đứng chân ở nam núi Phum Pích bảo đảm hành lang.

Mở đầu đợt hoạt động mới là chiến thắng của trung đội thông tin Tiểu đoàn 1 diệt gọn một trung đội địch.

Tiểu đoàn 2 cũng lập chiến công mới ở núi Srăng. Được trinh sát báo đã bám được địch, Tiểu đoàn trường Nguyễn Văn Nguyên và Chính trị viên Nguyễn Hồng Khanh liền dẫn tiểu đoàn bủa vây. Sau bốn lần nổ súng địch bị gom lại bên sườn núi đá. Đại đội 7 đã phục sẵn ở đây. Gần 100 tên địch vừa bị diệt vừa bị bắt.

 

Trận Srăng chứng tỏ cách đánh vận động bao vây tiến công liên tục, chủ động dẫn địch vào địa hình bất lợi ta đã chuẩn bị sẵn và kiên quyết tiến công dứt điểm là phù hợp với điều kiện địa hình, đối tượng tác chiến.

Ở hướng Trung đoàn 52, liên tiếp trong ba ngày 3, 4 và 5 tháng 6, Tiểu đoàn 6 cũng vận động bao vây tiến công liên tục, loại khỏi vòng chiến đấu 2 đại đội địch tại khu vực điểm cao 263 và 162.

Không chỉ các phân đội bộ binh mà các đơn vị phục vụ và trợ chiến của sư đoàn cũng tổ chức lùng sục, mở rộng địa bàn. Điển hình là chiến thắng của trung đội chỉ huy Tiểu đoàn pháo binh 12. Họ có nhiệm vụ đặt đài trung gian trên núi Phum Pích. Vừa đặt ba lô, giở cơm nắm ướt mèm nước mưa thì phát hiện địch. Chúng đang cắt rừng đi về phía bắc. Quyết không cho chúng chạy thoát cả đơn vị bỏ cơm, xách súng tụt xuống chân núi. Lựu đạn, AK... nổ dồn từ ba phía. Vốn tan rã và hoảng loạn, lại bị đánh bất ngờ và đánh rất gần địch đành giơ tay chịu trói.

Trong suốt đợt tiễu trừ tàn quân, Trung đoàn pháo binh 54, Tiểu đoàn công binh 17, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn công binh 7 phải giăng ra trên 60 ki-lô-mét đường rừng bảo đảm hành lang. Khi sư đoàn giải phóng được nhân dân, các đơn vị nói trên phải nới rộng bán kính và chiều dài hoạt động để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho nhân dân trở về phum, sóc. Đơn vị nào cũng tổ chức ra những bộ phận giúp đỡ người già yếu, em nhỏ... trên cung đường đảm nhiệm. Trạm phầu Trung đoàn 54 lúc nào cũng đông người vào xin thuốc. Hàng vạn dân vùng lõm Ki Ri Rom đã đi trên con đường ấy trở về với cuộc sống. Nhìn đoàn người đói rách kiệt sức, những em bé bị suy dinh dưỡng héo quất... ai ai cũng rân rấn nước mắt.

Một tháng đầu mùa mưa 1979 ở vùng núi Ki Ri Rom không phải là dài, cũng không có những trận đánh giằng dai quyết liệt. Chiến sĩ ta dầm mình trong mưa suốt tháng, chân tướp vì đá cào, giày rách vì những cuộc truy lùng và những cơn sốt rừng. Ai cũng gầy rộc đi nhưng quyết không để cho bọn tàn quân Pôn-pốt tiếp tục bàn tay vấy máu. Phải chặn bàn tay chúng lại. Phải cứu lấy hàng chục vạn người dân vô tội đang bị chúng đẩy vào cuộc sống cùng cực, chết dần chết mòn trong rừng sâu vì bệnh tật, đói khát, vì lao động khổ sai...

Theo sự thỏa thuận giữa Đảng và Chính phủ hai nước, một số đơn vị quân tình nguyện Việt Nam, trong đó có Sư đoàn 320 được lệnh trở về Tổ quốc nhận nhiệm vụ mới.

Ngày 8 tháng 7 năm 1979, Sư đoàn 320 vinh dự được đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về thăm. Trong buổi gặp mặt thân mật với một số cán bộ, chiến sĩ - những đại biểu ưu tú của đơn vị, đồng chí đánh giá rất cao những thành tích sư đoàn đã giành được trong cuộc chiến đấu vừa qua. Tình cảm ấy được phản ánh khá chân thực và cảm động trong bài thơ "Ngày về" mà đồng chí đọc tặng cán bộ, chiến sĩ sư đoàn. Trong đó có đoạn:

"... Nhớ người đồng chí hy sinh

Ngọn cờ quốc tế nghĩa tình thủy chung.

Ngày về rực rỡ chiến công

Qua sông gió gọi, qua đồng lúa reo”

Bình luận


© 2023 bởi Nhà Lưu Niệm. Được dùng và bảo mật bởi Wix

bottom of page