Hồi ký "Ký ức Đời binh nghiệp". Chương 5 - TRÊN CHIẾN TRƯỜNG TÂY NGUYÊN
- 3 thg 1
- 59 phút đọc
Đã cập nhật: 5 thg 4

SAU khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Đườn Đường 9 - Nam Lào. Sư đoàn 320 về đứng chân ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh làm nhiệm vụ củng cố, huấn luyện và chờ đón nhiệm vụ mới.
Ngày 19 tháng 11 năm 1971, trong lúc sư đoàn đang hoàn tất công tác chuẩn bị lên đường thì được tin Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng đến thăm. Sau khi kiểm tra đơn vị theo thông lệ, Thượng tướng dành thời gian nói chuyện với cán bộ sư đoàn. Thượng tướng Văn Tiến Dũng nói:
- Kỳ này Bộ giao cho sư đoàn các đồng chí vào chiến trường mới, thực hiện hướng tiến công chiến lược. Chiến trường mới là một địa bàn chiến lược vô cùng quan trọng, là một chiến trường cực kỳ gian khổ, khó khăn. Nhưng dù khó khăn, gian khổ đến mấy, các đồng chí cũng phải đánh giỏi, tiêu diệt từng chiến đoàn, trung đoàn và các đơn vị lớn hơn của địch ngay tại sào huyệt của chúng. Đây là thời cơ thuận lợi để các đồng chí phát huy truyền thống chiến thắng của Đại đoàn Đồng Bằng. Các đồng chí đánh tốt, chiến trường nào, đơn vị nào cũng đánh tốt thì buộc địch phải chấm dứt chiến tranh.
Sau buổi nói chuyện, Thượng tướng chụp ảnh lưu niệm với Tham mưu trưởng Lê Minh và tôi (bức ảnh kỷ niệm này tôi còn giữ đến bây giờ).
Sáng ngày 7 tháng 12 năm 1971. Trung đoàn 64 của tôi xuất phát. Sau đó, cả sư đoàn lên đường. Vẫn là những con đường hồi đầu năm vào tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào chúng tôi đã đi qua. Ở phía Đông Trường Sơn, những cơn mưa rừng kéo dài dai dẳng, suối réo ầm ầm. Đường giao liên vốn đã ẩm ướt, lầy lội, nay hàng nghìn người đi qua với dầy đủ trang thiết bị chiến đấu lại càng lầy lội hơn. Sang Tây Trường Sơn, khí hậu lại khác hẳn, trời khô hanh, nắng chói chang trên các cánh rừng khộp, rừng săng lẻ.
Khi chúng tôi vượt qua đường 9, quãng Mường Phìn, Sê Pôn, mọi người như muốn dừng lại nhìn cho kỹ hơn vùng đất mà Trung đoàn 64 chúng tôi đã lập công trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào... Vượt trạm 34 rồi trạm 36 đường giao liên Đoàn 559, trên đường đi, nhiều tảng đá, khe rãnh cắt ngang như muốn chen lối. Gặp những đoạn đường như vậy, phần lớn lính ta cứ phải đi bằng mông và bằng tay. Lính bộ binh chỉ khẩu AK, B.40, B.41, RPĐ (trung liên) cũng đã cực, lính hỏa lực càng cực hơn, cứ phải hô nhau lôi, đẩy nòng pháo, giá pháo qua. Những chỗ như vậy lại thường không khiêng được, phải chọn những người khỏe nhất mà vác, mà công. Qua được phải ngồi mà thở, mà quạt.
Gian khổ khó khăn là vậy, nhưng cứ mỗi lần giải lao là tiếng loa, tiếng hát của các tổ tuyên truyền văn hóa lại vang lên động viên cổ vũ bộ đội. Niềm vui làm quên mệt mỏi, những chặng đường giao liên dường như ngắn lại.
Chiều về trạm tôi đã làm bài thơ:
Vượt Trường Sơn
Vạn dặm Trường Sơn, vạn dặm đèo
Chân đi từng bước, bước cheo leo
Chênh vênh đường vắt ngang lưng núi
Chót vót non cao dốc ngược đèo,
Sương phủ rừng xanh, rừng chắn lối
Mưa dồn nước đổ, thác gầm reo
Đường dài xá kể chỉ gian khó
Tiếp bước anh hùng ta tiến theo.
Trạm giao liên 43
17 giờ, ngày 20 tháng 12 năm 1971.
Càng vào sâu chiến trường, mức độ đánh phá của dịch càng quyết liệt. Bầu trời và mặt đất suốt ngày đêm không lúc nào ngớt tiếng máy bay, tiếng bom đạn. Từ trạm 42 đến trạm 61 có ngày chúng tôi phải hành quân qua những bãi bom B.52 dài hàng cây số. Đến trạm 63, gạo ăn dự trữ hành quân đã hết, bình trạm vận chuyển chưa kịp. Quân vào, quân ra ùn cả lại. Khẩu phần ăn mỗi ngày giảm xuống còn ba lạng gạo. Để giảm bớt khó khăn, chỉ huy trung đoàn chúng tôi động viên bộ đội khai thác hậu cần tại chỗ. Anh em kiếm củ mài, bống báng, thân cây chuối, củ chuối đến các loại rau môn thục, tai voi, móng ngựa... làm thức ăn và chất độn để chiến sĩ ta qua bữa.
Đến trạm 73, vùng ba Biên Giới, chúng tôi đã thấy cảnh nhộn nhịp của chiến dịch đang bắt đầu. Các đoàn quân, các đoàn xe ngày đêm ra vào hối hả. Các nhánh đường tỏa đi các ngả, bụi đất lầm lên, cây cối phủ một màu đỏ quạch. Ở đây cũng có thể nghe rất nhiều giọng nói dịa phương của mọi miền đất nước. Cũng từ trạm 73, chúng tôi rẽ trái đi về hướng đông tiến vào địa phận Tây Nguyên.
Chiều ngày 28 tháng 1 năm 1972, nghĩa là sau gần 2 tháng hành quân, Trung đoàn 64 chúng tôi đã đến địa điểm "Tây Ninh I" (Trạm 1 giao liên Tây Nguyên).
Ngày 9 tháng 2 năm 1972, ngay sau khi Sư đoàn 320 vào đến vị trí tập kết. Tư lệnh Kim Tuấn và Chính ủy sư đoàn Phí Triệu Hàm lên Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên nhận nhiệm vụ. Trong hai ngày 18 và 19 tháng 2, Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn 320 họp quán triệt nhiệm vụ chung của toàn Miền, thảo luận sâu về nhiệm vụ của Mặt trận Tây Nguyên và nhiệm vụ của sư đoàn trong chiến dịch Xuân - Hè năm 1972.
Ngày 22 tháng 2, Hội nghị quân chính sư đoàn được triệu tập, tại phía đông bắc dãy núi Chư Mo Ray. Cán bộ chủ trì từ tiểu đoàn đến trung đoàn, thủ trưởng ba cơ quan, cán bộ chỉ huy các binh chủng trực thuộc và phối thuộc có mặt đầy đủ. Trước tấm bản đồ chiến dịch, Tư lệnh sư đoàn Kim Tuấn nói:
- Tây Nguyên là một địa bàn chiến lược quan trọng trong hệ thống phòng ngự của địch. Trong thời gian qua, mặc dù bị đánh đau rất nhiều, nhưng dịch vẫn ngoan cố, không chịu bỏ một cứ điểm nào. Ngay từ đầu năm 1972, Mỹ - ngụy đã phán đoán hướng tiến công chiến lược chủ yếu của ta trên toàn miền là Tây Nguyên, nên chúng đã tăng cường lực lượng, kể cả các lực lượng dự bị chiến lược và máy bay B.52 để đối phó. Theo các nguồn tin tình báo cho biết: bộ tổng tham mưu quân ngụy đang chuẩn bị cho sư đoàn dù - lực lượng tổng dự bị chiến lược lên Tây Nguyên.
Đến trung tuần tháng 2 năm 1972, lực lượng địch ở Tây Nguyên đã lên tới hai sư đoàn bộ binh là 22 và 23 thuộc quân đoàn 2, hai liên đoàn biệt động quân số 2 và số 6, bốn trung đoàn thiết giáp 3, 8, 14, 19, bảy tiểu đoàn pháo binh, sư đoàn 6 không quân. Ngoài ra còn hàng chục đại đội bảo an, hàng vạn phòng vệ dân sự. Lực lượng biệt động biên phòng bố trí vòng ngoài, ở giữa là quân chính quy ngụy và trong cùng là lực lượng bảo an dân vệ.
Thủ đoạn của dịch là chiếm các điểm cao, tổ chức chốt hỗn hợp bộ binh, pháo binh, củng cố công sự vững chắc, đưa các đại đội ra phía trước hoạt động, chú trọng đầu mối giao thông. Nhìn chung, thế bố trí của địch là thế phòng ngự nhiều tầng, có trọng điểm, có lực lượng cơ động ứng cứu lẫn nhau và sẵn sàng tiến công bất ngờ vào đội hình ta khi có điều kiện.
Sư đoàn 320 cùng các trung đoàn 66, 95, 28, 24, Tiểu đoàn 631, Trung đoàn pháo binh 40, Tiểu đoàn xe tăng, Trung đoàn 400 đặc công của Mặt trận và các lực lượng của Bộ tăng cường. Sư đoàn 2 (Quân khu 5), Trung đoàn pháo binh 675, Trung đoàn 7 công binh, 3 tiểu đoàn pháo cao xạ 37 và 57, một đại đội tên lửa chiến thuật B72, có nhiệm vụ tiến công tiêu diệt địch, giải phóng vùng Đắc Tô - Tân Cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Kon Tum, hướng phát triển là phía tây Plei Ku, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, hình thành căn cứ địa hoàn chỉnh nối liền với căn cứ miền Đông Nam Bộ.
Đây là một chiến dịch tiến công quan trọng với lực lượng lớn, tác chiến hiệp đồng binh chủng diễn ra trên một không gian rộng và thời gian tương đối dài.
Mặt trận dự định chiến dịch sẽ chia làm hai bước. Bước một, tìm cách kéo chủ lực ngụy ra dãy điểm cao phía tây sông Pô Cô và bắc Võ Định để tiêu diệt, tạo thời cơ tiến công giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh. Bước hai, tiến công thị xã Kon Tum và vùng đất phía tây thị xã Plei Ku và bắc Đắk Lắk.
Dừng hồi lâu, Tư lệnh Kim Tuấn nói tiếp:
- Trong bước một, Sư đoàn ta (trừ Trung đoàn 48 làm lực lượng dự bị chiến dịch) được tăng cường một đại đội pháo 122. một tiểu đội cối 160, một tiểu đoàn cao xạ 37, cài sẵn ở khu vực điểm cao 1088, 1015, 1049, Ngọc Plốc, Ngọc Đi Ốc tìm cách khêu ngòi kéo chủ lực quân đoàn 2 ngụy và lực lượng dự bị chiến lược ra để đánh một đến hai trận then chốt, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, kiên quyết không để cho địch co cụm. Sau đó sư đoàn nhanh chóng vượt sông Pô Cô, tiến sang đường 14 cùng Trung đoàn 28 cất triệt để con đường này, đánh quân viện từ Kon Tum lên, tạo điều kiện cho các đơn vị bạn tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Đắc Tô - Tân Cảnh.
Bước hai, sư đoàn sẽ cùng các lực lượng của Mặt trận tiến công thị xã Kon Tum và các mục tiêu khác. Theo kế hoạch của Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, ngày 30 tháng 3, các đơn vị tham gia chiến đấu phải cài xong thế trận ở khu vực phía tây sông Pô Cô, sẵn sàng tiêu diệt bất cứ lực lượng nào đổ bộ xuống đây.
Vốn là người rất cụ thể và kỹ càng, sau khi phổ biến xong nhiệm vụ, Tư lệnh sư đoàn Kim Tuấn thong thả nói điều cuối cùng:
- Tôi lưu ý các đồng chí, cần coi trọng công tác chuẩn bị chiến trường, công tác hiệp đồng, công tác hậu cần, công tác chỉ huy. Mọi công tác chuẩn bị phải làm cụ thể, tỷ mỷ, không được đơn giản. Chúng ta đã có những bài học đau xót do sơ suất trong công tác chuẩn bị, do không đánh giá đúng địch. Trên chiến trường mới này, chúng ta quyết không để tái diễn hiện tượng đó. Kể từ giờ phút này, các đơn vị phải nhanh chóng hoàn thiện các công tác chuẩn bị và luôn luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.
Cuối tháng 2 năm 1972. dịch phát hiện được Sư đoàn 320 đứng ở phía đông điểm cao Chư Mo Ray và thấy sư đoàn này mở con đường 70B qua dãy núi phía tây sông Pô Cô để tiến sang Võ Định. Chúng càng tin mục tiêu tiến công chiến lược toàn miền của ta là Kon Tum, là Tây Nguyên. Địch ra sức đánh phá ngăn chặn, có ngày hàng chục lần chiếc B.52 ném bom rải thảm, hàng chục lần chiếc máy bay phản lực bổ nhào đánh phá. Các trận địa pháo ở Đắc Tô, Tân Cảnh. Diên Bình, Võ Định không ngừng bắn ra, nhưng chúng cũng không thể ngăn cản con đường của Sư đoàn 320 chúng tôi vươn tới. Bộ chỉ huy quân ngụy Sài Gòn không còn tin vào khả năng chống giữ của quân đoàn 2, liền vội vã điều lực lượng dự bị chiến lược ra tăng cường. Lữ dù 2 vừa đến Kon Tum, lập tức bị ném ra dây điểm cao phía tây sông Pô Cô để cùng với tiểu đoàn 11 biệt động quân và tiểu đoàn 3 trung đoàn 47 hình thành một tuyến phòng ngự lâm thời ngăn chặn từ xa.
Như vậy, dịch đã hình thành hệ thống phòng ngự theo một tuyến dài, dọc trục đường 14. Hai khu vực Đắc Tô - Tân Cảnh và thị xã Kon Tum là hai trung tâm phòng ngự mạnh, thêm vào đó do không đánh giá được khả năng của ta, chúng cho là ta chỉ có thể mở được hướng tiến công từ phía tây nên chỉ tổ chức thêm những tuyến phòng ngự vòng ngoài ở hướng này. Toàn bộ tuyến phòng thủ từ thị xã Plei Ku đến Tân Cảnh đều bỏ ngỏ ở hướng đông. Riêng đoạn phòng ngự từ bắc thị xã Plei Ku đến nam thị xã Kon Tum không được bảo vệ cả phía đông lẫn phía tây.
Để phối hợp với chiến trường toàn miền, ngày 30 tháng 3 năm 1972, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên lệnh cho Sư đoàn 320 dùng Trung đoàn 52 bắt đầu vây ép tiểu đoàn 2 lữ đoàn dù số 2 ở điểm cao 1049, thực hiện bước một chiến dịch. Trung đoàn 64 chúng tôi cũng được lệnh cùng các đơn vị phối thuộc vào chiếm lĩnh khu vực điểm cao 1015 với nhiệm vụ đánh quân ứng cứu từ phía bắc xuống, hỗ trợ cho Trung đoàn 52 và sẵn sàng đánh quân đổ bộ đường không xuống điểm cao này.
Suốt ngày 31 tháng 3 dịch dùng máy bay đánh phá dữ dội vào đội hình vây ép của Trung đoàn 52 hòng cứu nguy cho đồng bọn. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 52 vẫn trụ vững. Đến 3 giờ ngày 3 tháng 4 năm 1972. Trung đoàn 52 được lệnh tiến công tiêu diệt quân địch trên điểm cao 1049. Với hỏa lực được bố trí, Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6 đã chiến đấu rất dũng cảm. Qua 3 giờ chiến đấu, các mũi tiến công của hai tiểu đoàn gặp nhau tại sở chỉ huy tiểu đoàn địch. Nhưng do tổ chức lùng sục không tốt, lại để thê đội dự bị ở xa trong điều kiện địa hình cơ động phức tạp, bộ đội mất cảnh giác đã bị bọn tàn quân gọi phi pháo đánh trùm lên trận địa rồi phản kích chiếm lại. Bộ đội ta đành phải lui về tuyến xuất phát.
Trận đánh quân địch ở điểm cao 1049 của Trung đoàn 52 là bài học về tổ chức chỉ huy chiến đấu trong điều kiện rừng rậm, núi cao, quân địch có hỏa lực chi viện ngăn chặn.
Bộ chỉ huy quân ngụy Sài Gòn nhận thấy, nếu để mất khu vực này thì từ đây ta có thể chọc thẳng sang đường 14, cắt đôi thế trận phòng ngự bắc Kon Tum liền lệnh cho lũ dù số 3 đưa lực lượng ra phía tây sông Pô Cô thay thế cho tiểu đoàn 3 trung đoàn 47 và tiểu đoàn 2 lữ đoàn dù số 2 chốt giữ điểm cao 1015.
Điểm cao 1015 (địch gọi là căn cứ Sác-li) nằm ở phía tây bắc sông Pô Cô và đường chiến lược 14, kéo dài theo hướng bắc nam chia làm ba mỏm: mỏm 51, mỏm 52, mỏm 53. Ở giữa mỏm 52 có một đại đội địch chốt sẵn. Riêng mỏm 53, địa hình khá bằng và rộng, có đường cơ giới chạy dưới chân đổi khá thuận tiện cho việc cơ động. Mỏm này được chia thành ba điểm nhỏ M11, M12, M13. Tiểu đoàn 11 lũ dù 3 chọn M11 đặt sở chỉ huy. Hai điểm M12, M13 do hai đại đội chốt giữ. Ở tây bắc điểm cao 1015 giáp điểm cao 1314 do tiểu đoàn 3 lữ dù 3 chốt giữ. Xa hơn nữa về phía nam và điểm cao 1049 do tiểu đoàn 7 lữ dù 3 mới đổ xuống thay thế cho tiểu đoàn 2 lừ dù 2.
Như vậy, nếu kéo dài từ điểm cao 1314 đến 1049 ta có thể thấy lữ dù 3 đã hình thành một tuyến ngăn chặn theo hướng bắc - nam, tạo thành bức bình phong vô cùng quan trọng để bảo vệ Đắc Tô - Tân Cảnh, Võ Định và thị xã Kon Tum.
Trung đoàn 64 chúng tôi được lệnh bao vây tiêu diệt tiểu đoàn 11 lũ dù 3. Nhận được lệnh, không khí ở sở chỉ huy trung đoàn náo nhiệt hẳn lên. Hơn chục mái đầu chụm lại với nhau, bàn định, cân nhắc, rồi dự kiến các phương án. Đến chiều, cán bộ ba cơ quan sư đoàn cùng có mặt ở Sở chỉ huy Trung đoàn 64 chúng tôi.
Sáng ngày 10 tháng 4, tôi và cơ quan tham mưu trung đoàn đã làm xong bản kế hoạch tác chiến. Về sử dụng lực lượng, chúng tôi thống nhất dùng Tiểu đoàn 9 được tăng cường một đại đội 12,7, một đại đội ĐKZ 82 và ĐKZ 75, hai trung đội công binh đảm nhiệm hướng chủ yếu từ tây bắc đánh chiếm mỏm M11, M12, tiêu diệt sở chỉ huy tiểu đoàn 11 lữ dù 3. Sau đó cùng Tiểu đoàn 8 tiêu diệt các mục tiêu còn lại trên điểm cao. Tiểu đoàn 8 được tăng cường một trung đội 12,7 ly, một trung đội ĐKZ 82, một tiểu đội công binh đảm nhiệm hướng thứ yếu từ tây bắc đánh chiếm mỏm 51 và mỏm 52, sau đó phát triển sang mỏm M11, cùng Tiểu đoàn 9 đánh chiếm sở chỉ huy tiểu đoàn 11.
Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 (tăng cường) là lực lượng dự bị được bố trí phục sẵn ở tây bắc mỏm 51, chặn dịch từ điểm cao 1314 đánh sang.
Trong cuộc họp thông qua phương án lần cuối, tôi nhấn mạnh:
- Tư tưởng chỉ đạo trận này là: vây chặt, tiến công liên tục, đột phá có trọng điểm kết hợp với thọc sâu chia cắt. Đây là lần thứ hai trung đoàn ta đối mặt với lữ dù 3, nhất định chúng ta phải giành thắng lợi.
Sau hội nghị thông qua phương án, tôi đôn đốc Tiểu đoàn 9, Tiểu đoàn 8 và các đơn vị phối thuộc khẩn trương làm công tác chuẩn bị. Để tạo bàn đạp cho các đơn vị tiếp cận xây dựng trận địa chi viện cho bộ binh, chúng tôi buộc phải đánh một số trận ở khu kho A4, đồi Quả Dưa. Những trận đánh này, quân địch ít nhiều đánh hơi thấy quy mô của những trận đánh sắp tới. Chúng tăng cường phi pháo đánh phá ác liệt xung quanh các điểm cao hòng đẩy lực lượng ta ra xa. Trận đánh lớn chưa bắt đầu nhưng đã có cán bộ, chiến sĩ Trung doàn 64 bị thương vong.
7 giờ ngày 11 tháng 4, tôi phát lệnh cho toàn trung đoàn và các đơn vị phối thuộc hành quân chiếm lĩnh. Đã nhiều lần hành quân tiếp cận trên nhiều chiến trường khác nhau, nhưng chưa bao giờ chúng tôi thấy vất vả và ác liệt như ở trận này. Đường đi toàn dốc là dốc. Chính vì lắm dốc nên nhiều vực, nhiều khe. Bộ đội ở sườn núi bên này nghe bộ đội sườn núi bên kia rì rầm nói chuyện mà đi hàng giờ mới đến. Còn bom, pháo, chỉ tính từ 0 giờ đến 17 giờ ngày 11 tháng 4. tám trận bom B.52 đã cắt qua đội hình.
20 giờ các đơn vị vào đến vị trí tạm dừng. Cán bộ phổ biến công tác hiệp đồng lần cuối và những việc cần thiết cho bộ đội trước khi vào xây dựng công sự trận địa. 21 giờ, bộ đội bí mật vào chiếm lĩnh. Ở Sở chỉ huy trung đoàn chúng tôi hồi hộp theo dõi từng bước chân của chiến sĩ Tiểu đoàn 9. Mặc dù rất tin ở cấp dưới, nhưng tôi vẫn bồn chồn phấp phỏng. Làm thế nào để đánh được một trận ra trò, thực hiện tốt ý định bước một của chiến dịch. Không giải quyết tốt trận này thì khó khăn nhiều cho bước phát triển sắp tới.
4 giờ ngày 12 tháng 4, chuông điện thoại ở hầm tác chiến trung đoàn đổ hồi. Tôi nghe trợ lý tác chiến trao đổi với Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Đàm Vũ Hiệp. Nói chuyện xong với Tiểu đoàn trưởng Hiệp, đồng chí trợ lý tác chiến quay sang tôi:
- Báo cáo trung đoàn trưởng, anh Hiệp báo cáo Đại đội 7 đã áp sát mục tiêu, xây dựng xong công sự, hầm hào và đã liên kết xong bộc phá ở cửa mở.
- Tốt lắm. Cậu nắm lại hướng Tiểu đoàn 9 nói ý kiến của tôi với anh Cam, Tiểu đoàn trưởng, cho bộ đội tranh thủ ăn sáng, kiểm tra lần cuối vũ khí trang bị, sẵn sàng chờ lệnh nổ súng.
5 giờ 50 phút, hai trận địa lựu pháo 122 và Đ.74 (pháo 122 nòng dài), cối 120 cùng gầm lên một lúc. Do đã qua những ngày bắn thử nên pháo ta bắn rất chính xác. Những dải khói màu xám, màu nâu bắt đầu trùm lên điểm cao 1015. Chấp hành mệnh lệnh của Tư lệnh sư đoàn Kim Tuấn, tôi lệnh cho Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 9 nổ súng tiến công quân dù.
6 giờ, pháo binh ta tạm ngừng, trận địa Đ.74 được lệnh chuyển làn kiềm chế pháo binh địch. Các loại hỏa khí ngắm bắn trực tiếp bắt đầu bắn chi viện cho bộ binh mở cửa.
Ở hướng Tiểu đoàn 9, tranh thủ thời cơ pháo ta nã đạn. Đại đội 10 bật dậy áp sát mục tiêu M13, rồi chia làm hai mũi ào ạt đánh lên điểm cao. Nhưng bọn lính dù nhận ra nguy cơ từ hai cửa mở này, chúng tập trung tất cả các loại hỏa lực bắn vào hai cửa mở Đại đội 10. Bộ đội ta không lên được. Đại đội trưởng Đặng Văn Lưu lên chỉ huy Trung đội 3 mở nốt hai hàng rào còn lại, và lệnh cho khẩu ĐKZ 75 chi viện. Nhưng Lưu và chiến sĩ liên lạc mới lao đi được khoảng 30 mét thì bị một quả bom nổ gần hất hai người ngất xỉu. Trung đội trường Trung đội 3 tiếp tục lao lên nhưng chưa tới đường mở đã bị thương.
Như vậy. Trung đội 3 mở cửa chỉ còn ba người, Trung đội phó Dưỡng và hai chiến sĩ Thu và Điện. Ba người hội ý với nhau. Dưỡng nói: "Đơn vị đang hy vọng ở chúng ta. Bằng mọi giá phải mở được cửa đột phá. Thu và Điện chi viện để tôi tiến lên". Chiến sĩ trẻ Nguyễn Văn Điện vội xua tay: "Anh còn phải chỉ huy trung đội, hãy giao việc này cho em". Nói rồi, Điện ôm bộc phá lao lên cửa mở.
Sau hai tiếng B.40 của Dưỡng và Thu nổ lộng óc, ống bộc phá của Điện cũng chớp lửa. Nhưng vì sợ bộc phá không nổ nên Điện nằm lại quá gần. Bộc phá nổ, Điện bị hất tung ra phía sau, ngất lịm.
Cửa mở thông, các chiến sĩ Trung đội 3 bật dậy xung phong. Nhưng vì số người còn quá ít, lại thiếu hỏa lực đột phá nên tốc độ phát triển chậm. Bọn lính dù thấy vậy đã tập trung hỏa lực ngăn chặn. Nhưng các chiến sĩ Trung đội 3 chiến đấu rất dũng cảm, quyết giữ những nơi đã chiếm giữ được.
Ở mũi đột phá thứ hai của Đại đội 10 do Đại đội phó Nguyễn Văn Hỏa chỉ huy, tình hình phát triển thuận lợi hơn. Ngay từ phút đầu dưới tầm chi viện của pháo binh ta, Trung đội trưởng Trung đội 2 Nguyễn Ngọc Loan đưa trung đội áp sát hàng rào. Loan chỉ thị mục tiêu cho khẩu ĐKZ 82 của Minh đi cùng diệt ba ụ đại liên ngay trên đường mở cửa. Khi pháo ta vừa chuyển làn, tổ mở cửa xông lên mở tung hàng rào cuối cùng. Trung đội 2 ào ạt đánh lên chi viện cho hướng Trung đội 3. Bọn lính dù vừa chạy lùi vừa bắn trả quân ta. Nhưng chúng đã không thoát mũi vu hồi của Đại đội 9 đánh từ phía tây nam lên. Đến 13 giờ, Tiểu đoàn 9 hoàn toàn làm chủ mục tiêu M13, tiêu diệt một đại đội lính dù thuộc tiểu đoàn 11, lữ dù 3. Tiểu đoàn 9 khẩn trương củng cố, xốc lại đội hình đánh tiếp M12.
Ở hướng Tiểu đoàn 8, trên hướng tiến công thứ yếu của trung đoàn, cuộc chiến đấu diễn ra hết sức quyết liệt. Sau đợt pháo bắn chuẩn bị, Tiểu đoàn trưởng Đàm Vũ Hiệp ra lệnh cho bộ đội xung phong. Đại đội 7 đồng loạt áp sát mỏm 52. Các tổ hỏa lực bắn chính xác chi viện cho tổ mở cửa. Hàng rào bị phá tung, cả đại đội tràn lên đánh chiếm các công sự tiền tiêu của địch, rồi phát triển sang trận địa pháo nằm giữa mỏm 52 và mỏm 53. Nhưng khi áp sát vào M11 - chỉ huy sở tiểu đoàn 11 dù, thì Đại đội 7 bị chặn đứng lại. Quân dù ở thế cao có thể quan sát và khống chế hành động của bộ đội ta. Trận đánh trở nên gay go, quyết liệt.
Đến 11 giờ, địch cho máy bay đến đánh phá ác liệt vào trận địa của Tiểu đoàn 8. Cho đến chiều ngày 12 tháng 4, Tiểu đoàn 8 bị tổn thất lớn, Tiểu đoàn trưởng Đàm Vũ Hiệp và Chính trị viên Nguyễn Văn The hy sinh do một quả bom rơi trúng hầm. Nhận được tin đau đớn này, tôi hội ý với chính ủy trung đoàn giao cho anh Phạm Như Thoán - Tham mưu phó trung đoàn chỉ huy Tiểu đoàn 8. Anh Thoán hăng hái nhận nhiệm vụ, bắt tay ngay vào việc nắm lại đơn vị, động viên bộ đội xốc lại đội hình, giữ vững thế trận đã chiếm được. Đồng thời, xét thấy khả năng mở tiếp các đợt tiến công trong ngày không còn nữa, tôi ra lệnh cho Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn 9 và các đơn vị phối thuộc củng cố công sự, giữ vững địa bàn đã chiếm được để ngày mai đánh tiếp.
Ngay trong đêm, tôi lệnh cho cơ quan hậu cần trung đoàn cho vận chuyển đạn, đưa cơm nước cho bộ đội và chuyển thương binh, tử sĩ về phía sau. Bộ đội ta tích cực sửa chữa lại hầm hào bị sụt lở, sẵn sàng cho một ngày chiến đấu mới.
Ngày 13 tháng 4, mới sáng ra địch đã tập trung lực lượng phản kích, hòng chiếm lại những khu vực đã mất. Quân dù ỷ vào ưu thế binh lực, hỏa lực nhiều và mạnh chia làm nhiều mũi đánh xuống M13 và mỏm 52. Các trận địa pháo ở Ngọc Bờ Biêng, Diên Bình, Đắc Tô, Tân Cảnh thi nhau bắn không tiếc đạn vào trận địa của ta. Chúng cho cả máy bay phản lực, trực thăng vũ trang sà thấp bắn phá vào tuyến công sự của bộ đội ta. Nhưng chiến sĩ Tiểu đoàn 8 vẫn bình tĩnh đánh trả, chặn đứng các đợt phản kích của địch.
Khoảng 16 giờ ngày 13 tháng 4, quân dù dồn binh lực và hỏa lực đột phá vào hướng Tiểu đoàn 8. Trận địa Đại đội 7 mịt mù khói đạn. Địch từ khu M11 đánh tràn xuống đến sát mỏm 52, vẫn không thấy ta phản ứng. Chúng hí hửng thi nhau tiến. Đợi một trung đội địch lọt vào khu chiến, Đại đội trưởng Đại đội 7 Nguyễn Văn Hinh ra lệnh: Bắn! Bất thần, một hàng rào đạn từ mặt đất dựng lên. Chỉ vài phút sau trung đội lính dù bị các chiến sĩ Đại đội 7 tiêu diệt.
Sau một ngày chiến đấu, ta đã không để mất một tấc đất nào mà còn tiêu diệt một bộ phận quân địch nống ra phản kích.
4 giờ sáng ngày 14 tháng 4, tôi lệnh cho Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 9 cho bộ đội dàn đội hình chấn chỉnh lực lượng, tổ chức hỏa lực đánh mạnh rồi tiến hành đột phá, dứt điểm mục tiêu.
7 giờ, khi làn sương mỏng cuối cùng đang tan, từ Đài quan sát báo cáo về phát hiện nhiều tên địch đang từ các ụ đất chui ra và di chuyển về hai phía. Tôi biết chúng đang chuẩn bị xua quân đi phản kích. Tôi liền lệnh cho pháo bắn. Ngay từ những loạt đạn đầu, sở chỉ huy địch đã trúng đạn pháo ta. Qua đài kỹ thuật, chúng tôi được biết tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng bị thương nặng, trưởng ban 3 bị tử thương.... hầm hố, công sự bị sập nhiều. Sau đó là tiếng bọn chỉ huy địch la chửi lẫn nhau. Rõ ràng địch đang có dấu hiệu nao núng, tan rã. Tôi cho rằng thời cơ tiến công quân dù đã đến! Tôi ra lệnh xung phong.
Tiểu đoàn 9 chia làm hai mũi, lợi dụng pháo cấp trên chỉ viện, nhanh chóng vượt qua M13 đánh thốc lên M12. Mũi Đại đội 10, do Chính trị viên phó Dương Văn Niên và Trung đội trưởng Bùi Huy Điển chỉ huy đột phá chiếm tầng công sự ngoài cùng rồi chia làm hai mũi phát triển vào bên trong. Sau 1 giờ chiến đấu, bộ đội ta chiếm được mỏm cao nhất của M12. Một nửa đại đội địch bị tiêu diệt, số còn lại tụt xuống chân điểm cao M12, hợp quân với bọn tàn bình địch ở điểm cao M13 quyết ngăn chặn quân ta. Nhưng đến 13 giờ, Đại đội 9 đánh từ sườn nam lên với sự hỗ trợ của Đại đội 10 từ trên cao, bọn còn lại không chịu nổi, phải chạy tháo thân sang M11.
Ở hướng Tiểu đoàn 8, tình hình gặp nhiều khó khăn hơn. Trong giờ đầu, chúng tôi còn biết được tình hình tiểu đoàn qua máy thông tin 2W và đài quan sát. Sau đó thì mất liên lạc. Mãi đến 21 giờ tôi mới liên lạc được với đồng chí Thoán -Tham mưu phó trung đoàn. Thoán cho biết: "Sau khi pháo ta bắn, Đại đội trưởng Nguyễn Xuân Hinh đã dẫn đầu Đại đội 7 vượt qua khu lòng chảo, tiến công vào M11. Nhưng mặt đồi trống trải nên địch phát hiện được và chống trả quyết liệt. Bộ đội ta không tiến lên được đành phải quay sang hướng đông bắc đánh lên. Hướng này địch cũng phát hiện và gọi phi pháo đánh phá. bộ đội ta phải dựa vào hầm hào cũ của địch bám đánh trả. Hai chiến sĩ vô tuyến của tiểu đoàn bị thương, máy hỏng, đường dây bị dứt chưa khắc phục được. Từ đó. Tiểu đoàn 8 bị mất liên lạc với trên, chỉ chiến đấu theo kế hoạch và lấy tiếng súng của đơn vị bạn để hiệp đồng.
19 giờ 30 phút, sau khi đưa Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 lực lượng dự bị vào tiếp sức cho Tiểu đoàn 9 thế trận của ta vững chắc hơn. Quân địch ở M11 có dấu hiệu nao núng. Tôi liền báo cáo Tư lệnh Kim Tuấn, đề nghị sư đoàn điều một tiểu đoàn của Trung đoàn 48 vào khu vực Ngọc Đi Ốc đón lõng quân địch ở điểm cao 1015 chạy về.
1 giờ ngày 15 tháng 4 tôi ra lệnh cho Tiểu đoàn 9 và Tiểu đoàn 3 nổ súng tiến công M11. Sau 15 phút chiến đấu quân ta đã làm chủ mục tiêu. Quân dù còn lại tháo chạy về hướng đông. Đến 2 giờ, Đại đội 5 và Đại đội 6 Tiểu đoàn 8 phát hiện quân dù chạy qua trận địa đã kịp thời nổ súng tiêu diệt 80 tên. Số còn lại tháo chạy thục mạng về phía Ngọc Đi Ốc.
Cũng đêm hôm đó, tôi được biết Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 bắt đầu hành quân. Trời tối, đường xa, lắm đèo nhiều dốc lại không có đường sẵn, phải cắt theo góc phương vị, qua những cánh rừng rậm rạp, đầy gai góc. Đúng 5 giờ sáng ngày 15 tháng 4 năm 1972, Tiểu đoàn 2 đã hành quân đến vị trí chiếm lĩnh, triển khai thế trận chờ địch. 7 giờ, toàn bộ lực lượng còn lại của tiểu đoàn 11 lữ dù 3 chạy về Ngọc Đi Ốc đã sa vào cái bẫy giăng sẵn của Tiểu đoàn 2, không một tên nào chạy thoát.
Sau 3 ngày chiến đấu, Trung đoàn 64 và lực lượng tăng cường đã tiêu diệt gọn tiểu đoàn 11 lữ đoàn dù số 3, diệt 260 tên, bắt 166 tên (có 1 trung tá, 1 thiếu tá, 2 đại úy, 5 trung úy), bắn rơi 20 máy bay, thu nhiều vũ khí, quân trang quân dụng của chúng.
Đối với Trung đoàn 61, đây là lần thứ hai đọ sức với lữ đoàn dù số 3. Lần trước, trên chiến trường Đường 9 - Nam Lào. Trung đoàn 64 đã tiêu diệt 2 tiểu đoàn của lữ đoàn dù này, bắt sống lữ đoàn trưởng Nguyễn Văn Thọ. Lần này, trên chiến trường Tây Nguyên, Trung đoàn 64 chúng tôi lại hoàn thành trận then chốt thứ nhất của chiến dịch, tiêu diệt gọn một tiểu đoàn cũng thuộc lữ đoàn dù số 3 quân ngụy Sài Gòn.
Mất điểm cao 1015, viên tướng Ngô Du - tư lệnh quân khu 2, tư lệnh quân đoàn 2 ngụy hớt hải lên Võ Định để cùng chỉ huy sư đoàn dù, bàn cách chiếm lại. Nhưng kế hoạch phản kích không có quân thực hiện nên chúng phải hủy bỏ. Tuyến ngăn chặn ở phía tây sông Pô Cô bị chọc thủng, sư đoàn dù phải rút bỏ một số vị trí, co về cùng với lực lượng quân đoàn 2 giữ lấy tuyến phòng ngự cơ bản từ Vô Định đến thị xã Kon Tum.
Phối hợp với Sư đoàn 320 đánh quân dù, trên các hướng khác các đơn vị đều tích cực hoạt động. Trên đường 14, Trung đoàn 28 tập kích diệt trận địa pháo địch ở Kông Trăng Lăng Loi, đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn thuộc liên đoàn biệt động quân số 23 và diệt gọn 2 chi đoàn xe bọc thép thuộc trung đoàn 14 thiết giáp, làm gián đoạn sự vận chuyển, ứng cứu của địch từ Kon Tum đi Tân Cảnh.
Ở phía nam thị xã Kon Tum, Trung đoàn 95 tổ chức bảy chốt hỏa lực ở Chư Thoi, hình thành những nút chặn địch từ Plei Ku lên Kon Tum. Các chiến sĩ Trung đoàn 95 đã kiên cường bám trụ dưới tầm phi pháo ác liệt, liên tiếp đánh giao thông diệt nhiều đoàn xe tiếp tế của địch, trong đó có đoàn xe 40 chiếc và 120 chiếc.
Trung đoàn 28 và Trung đoàn 95 đã góp phần siết chặt thêm thế vây hãm chiến dịch đối với các cụm phòng ngự của địch ở Kon Tum. Đường 14 bị cắt đứt hẳn ở cả hai đầu bắc và nam thị xã Kon Tum.
Cùng thời gian này trên chiến trường toàn miền, quân và dân Trị - Thiên đã đập tan tuyến phòng thủ mạnh nhất của địch ở Quảng Trị, đánh chiếm và làm chủ các căn cứ Ái Tử, La Vang, Đông Hà, thành Quảng Trị, buộc địch phải lui về phía nam sông Mỹ Chánh. Ở miền Đông Nam Bộ, quân và dân ta đã giải phóng huyện Lộc Ninh và đang tiến công vào thị xã An Lộc cửa ngõ phía tây bắc Sài Gòn.
Bộ chỉ huy quân Mỹ ở Sài Gòn đã thấy được hướng tiến công chiến lược chủ yếu của ta không phải là Tây Nguyên nên mặc dù tuyến ngăn chặn phía tây sông Pô Cô bị chọc thủng, chúng vẫn buộc phải điều sư đoàn dù về Bình Long.
Qua bước một của chiến dịch, địch bị tiêu hao và tiêu diệt một bộ phận lực lượng, quân dù rút đi quá nửa, lực lượng nòng cốt chiến dịch của địch đã suy yếu, mất sức phản kích. Cánh cửa chiến dịch đã được mở ở hướng tây. Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định không cần kéo địch ra bắc Võ Định để tiêu diệt như dự kiến ban đầu mà nhanh chóng chuyển sang tiến công giải phóng căn cứ Tân Cảnh (căn cứ 42).
Ngày 24 tháng 4 năm 1972, bằng một đòn tiến công hiệp đồng binh chủng chưa từng có ở khu vực này, Trung đoàn 66 được tăng cường Tiểu đoàn 37 đặc công và được pháo binh chiến dịch chi viện, sau 6 giờ đột phá Trung đoàn 66 đã làm chủ hoàn toàn căn cứ Tân Cảnh - một trung tâm phòng ngự quan trọng bậc nhất của địch ở bắc Kon Tum, diệt và bắt 1.500 tên, gồm sở chỉ huy sư đoàn 22, sở chỉ huy trung đoàn 42, sở chỉ huy trung đoàn 14 thiết giáp. Viên đại tá Lê Đức Đạt, sư đoàn trưởng 22 và đại tá cố vấn Mỹ bị diệt; đại tá Vi Văn Bình, sư đoàn phó bị bắt làm tù binh.
Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 (Quân khu 5) được lệnh đánh thẳng vào căn cứ Đắc Tô 2. Sức chống cự của địch nhanh chóng bị đè bẹp. Trung đoàn 1 hoàn toàn làm chủ căn cứ Đắc Tô 2.
Tập đoàn phòng ngự Tân Cảnh - Đắc Tô 2 bị diệt, quân nguy hoang mang bỏ hàng loạt các căn cứ Ngọc Bờ Biêng. Ngọc Rinh Rua, điểm cao 966, 1029... về lập tuyến phòng thủ mới từ Võ Định sang Kleng, hòng ngăn chặn quân ta. Sư đoàn 320 được lệnh vượt sông Pô Cô, bố trí Trung đoàn 48 và Trung đoàn 64 đánh địch ở khu vực căn cứ Lam Sơn - Võ Định, đồng thời đón đánh tàn quân chạy từ Đắc Tô - Tân Cảnh về Kon Tum.
Ngày 28 và 29 tháng 4, Trung đoàn 48 và 64 tiến công liên đoàn 6 biệt động quân, giải phóng hoàn toàn khu vực Võ Định - Trí Đạo đến căn cứ Lam Sơn. Trung đoàn 64 chúng tôi hình thành thế trận vừa tiến công vừa đón lõng trên tuyến Võ Định. Trong vài ngày đã diệt và bắt gần 1.000 tên địch, khiến cho bọn lính bại trận ở Đắc Tô - Tân Cảnh chỉ còn vài tên chạy thoát về thị xã Kon Tum.
Như vậy, đến ngày 2 tháng 5, trên hướng phòng thủ bắc thị xã Kon Tum địch chỉ còn lại hai căn cứ là Plei Cần trên đường 18 và Kleng trên đường 511 đã hoàn toàn bị cô lập.
Bộ Tư lệnh Mặt trận giao cho Trung đoàn 52 Sư đoàn 320 đánh căn cứ Kleng và Trung đoàn 66 Mặt trận Tây Nguyên đánh căn cứ Plei Cần.
Ngày 9 tháng 5, Trung đoàn 48 sau hai giờ chiến đấu đã diệt gọn tiểu đoàn 62 biệt động biên phòng. Cùng ngày. Trung đoàn 66 tiến công cụm cứ điểm Plei Cần do tiểu đoàn 95 biệt động biên phòng trấn giữ do không được chuẩn bị kỹ, địa hình ở đây phức tạp nên trận đánh không thành. Bộ đội thương vong mấy chục cán bộ, chiến sĩ không lấy ra được, ta bỏ lại 2 xe lội nước PT76.
Ngày 11 tháng 5, sau khi Nguyễn Văn Toàn lên thay Ngô Du vừa bị cách chức, ông ta lập tức cho điều chỉnh lại lực lượng và đội hình phòng ngự, chúng bỏ vị trí Krông, bỏ quận ly Kon Tum, rút sư đoàn 23 về giăng thành một tuyến khá chặt chẽ xung quanh thị xã. Hai trung đoàn 44 và 53 án ngữ quận lỵ Kon Tum đến ngã ba Trung Tín. Trung đoàn 45 là lực lượng cơ động ứng cứu khi cần thiết, chỉ áp dụng cách phòng ngự mới là bố trí thành nhiều căn cứ nhỏ có công sự vững chắc liên kết chặt chẽ với nhau. Khi pháo ta bắn mạnh, chúng nhanh chóng sơ tán sau đó tập trung đội hình lại phản kích. Trước thủ đoạn mới của địch, ta không thể ồ ạt đánh thẳng vào thị xã được. Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận quyết định phải đánh địch bằng hai bước, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực của sư đoàn 23 ở vùng ven, sau đó mới chuyển sang tiến công địch trong thị xã.
Bộ Tư lệnh Mặt trận giao cho Sư đoàn 2 tiến công ngã ba Trung Tín ở tây bắc thị xã. Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 tiến công căn cứ Lôi Hổ ở phía đông thị xã. Sau đó Sư đoàn 2 và Trung đoàn 66 tiến công vào thị xã.
Đêm 24 và ngày 25 tháng 5, từ các hướng Sư đoàn 2 và Đại đội 209 thị đội Kon Tum cùng xe tăng đã đột phá tiến vào thị xã, đánh chiếm phía nam khu hành chính tỉnh, khu sân bay, sở chỉ huy trung đoàn 44, khu kho 40, 41, bệnh viện dã chiến và hai phần ba biệt khu 24.
Tướng Giôn Pôn-van, cố vấn quân khu 2, quân đoàn 2 ngụy bay lên thị sát và chỉ thị cho sư đoàn 23 chống cự đến cùng. Ông ta chưa kịp quay trở về, chiếc máy bay lên thẳng chở ông đã bị súng phòng không của ta bắn rơi trên đường 14. Nhân vật số ba của nước Mỹ ở Việt Nam và là người trực tiếp điều hành mọi hoạt động quân sự, chính trị của quân khu 2, quân đoàn 2 đã bị tan xác đã làm cho Ních-xơn hết sức đau đầu.
Trong khi đó, Trung đoàn 64 chúng tôi được lệnh phối hợp cùng Trung đoàn 28 tiến công khu vực phòng ngự của địch ở tây bắc thị xã từ quận lỵ Kon Tum đến ngã ba Trung Tín. Trước sức tiến công của ta, địch đã co về Phú Đôn và đông cầu Rô Rê lập tuyến phòng thủ mới ở phía đông suối Đắc Lây. Nhưng do đội hình Trung đoàn 64 quá mỏng, phối hợp chiến đấu giữa bộ binh và pháo binh, bộ binh và xe tăng chưa nhịp nhàng nên chưa diệt gọn đơn vị địch. Ở phía nam, Trung đoàn 48 tiến đánh căn cứ Lôi Hổ không thành, vì chuẩn bị quá gấp, vật chất thiếu, căn cứ địch có công sự kiên cố, vững chắc.
Cuộc chiến đấu của ta ở trong và ngoài thị xã Kon Tum ngày càng trở nên quyết liệt. Ở bên ngoài thị xã, địch tập trung máy bay chiến lược B.52 rải thảm xuống từng khu vực. Trong thị xã, chúng cho các loại máy bay ném đủ loại bom, cho xe tăng, bộ binh liên tiếp phản kích giành giật với ta từng căn nhà, góc phố. Bộ đội ta bám trụ kiên cường, quyết giữ vững từng vị trí đã chiếm được nhưng sức chiến đấu ngày một giảm dần. Mùa mưa đã đến, việc tiếp tế vận chuyển qua sông Pô Cô bị cản trở, gạo dự trữ mang theo không bảo đảm cho bộ đội có thể trụ lại chiến đấu tiếp được. Sau khi chiếm được Đắc Tô - Tân Cảnh, địch rối loạn, thị xã Kon Tum rất sơ hở - thời cơ đánh địch đang đà thuận lợi; lúc này để lực lượng nhỏ chặn đánh địch trên đường 14; ngay lập tức tổ chức lực lượng mạnh cấp sư đoàn có xe tăng pháo binh thọc thẳng vào Kon Tum sẽ tạo nên sự đảo lộn lớn về thế chiến dịch có lợi cho ta; đáng tiếc ta không lợi dụng được thời cơ thực hiện chiến thuật bất ngờ dùng sức mạnh thọc sâu đánh ngã địch trên trọng điểm, từ đó có thể tạo thành sự tan vỡ phòng thủ của địch ở Kon Tum. Thật đáng tiếc!
Đêm ngày 5 tháng 6. xét thấy những điều kiện để tiêu diệt hoàn toàn quân dịch trong thị xã Kon Tum không còn nữa. Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên cho các đơn vị lui quân.
Sau hơn hai tháng chiến đấu liên tục, ta có khó khăn về nhiều mặt, nhưng quyết tâm của Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên là tiếp tục cuộc tiến công chiến lược, tạo cho được cục diện mới trong năm 1972. Công việc phải giải quyết lúc này là tập trung củng cố bộ đội. bố trí lại thế trận chiến dịch cho phù hợp với nhiệm vụ chiến đấu tiêu diệt địch, giành dân, bảo vệ vùng giải phóng với khả năng cơ sở vật chất hiện có.
Sau khi Sư đoàn 2. Trung đoàn 52 Sư đoàn 320 và Trung đoàn công bình 83 xuống Khu 5. Bộ Tư lệnh Mặt trận tiến hành điều chỉnh lại thế bố trí chiến dịch và triển khai một kế hoạch hoạt động mới. Trung đoàn 66, Trung đoàn 28 cùng các lực lượng pháo binh thay phiên nhau vừa củng cố, huấn luyện vừa tiếp tục bao vây thị xã Kon Tum, tiêu diệt dịch nống ra bảo vệ vùng giải phóng. Trung đoàn 24 và Trung đoàn 95 luân phiên nhau củng cố, huấn luyện, tiếp tục đánh giao thông, từng thời gian làm chủ đường 14, cô lập thị xã Kon Tum, uy hiếp thị xã Plei Ku, bảo vệ vùng giải phóng huyện 3 và huyện 4 Gia Lai. Sư đoàn 320 thọc sâu vào tây nam thị xã Plei Ku, cùng một số đơn vị độc lập đang đứng chân ở đó, mở một mặt trận mới. tiến hành diệt địch trên đường 19 kéo dài. mở vùng nông thôn thuộc huyện 4 và huyện 5 tỉnh Gia Lai.
Thực hiện kế hoạch trên, đầu tháng 7 năm 1972, Sư đoàn 320 (thiếu Trung đoàn 52) hành quân đến T.15 (trạm giao liên 15) thuộc khu căn cứ tỉnh đội Gia Lai. Nhiệm vụ đầu tiên chúng tôi phải làm là giáo dục quán triệt tình hình nhiệm vụ mới, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ thấy hết khỏ khăn và thuận lợi trước khi bắt tay vào thực hiện.
Địa bàn hoạt động của Sư đoàn 320 thuộc huyện 1 và huyện 5 tỉnh Gia Lai, chủ yếu trên trục đường 19 kéo dài và đường 14. đoạn từ Hòn Rồng đi bắc Phú Nhơn. Đường 19 chạy theo hướng đông tây nối với đường 14 ở ngã ba Hòn Rồng qua Thanh An lên Đức Cơ vào đất Cam-pu-chia. Trục đường 19 kéo dài có tác dụng chia cắt vùng giải phóng giữa hai huyện 4 và huyện 5. án ngữ phía tây nam thị xã Plei Ku. đồng thời cũng là bàn đạp để dịch nống ra lấn sâu vào hậu phương và đường hành lang chiến lược của ta. Trên đoạn đường 14 từ Hòn Rồng đi quận lỵ Phú Nhơn là tuyến phòng ngự chủ yếu bảo vệ phía nam thị xã Plei Ku, cũng là bàn đạp lấn chiếm vùng giải phóng ở ba huyện 4, 5, 6 mà quân đoàn 2 ngụy dốc sức thực hiện.
Dân số ở huyện 4 và huyện 5 có gần bảy vạn người hầu hết là dân tộc Gia Rai, một phần người Kinh sống ở các đồn điển, quận lỵ hoặc trên các trục đường giao thông. Có thể chia làm hai vùng cân bằng về dân số. nhưng trội hơn về đất đai như sau: Vùng một, gồm các xã hoàn toàn được giải phóng nằm sát biên giới Việt Nam Cam-pu-chia. Vùng đất này từ lâu Mỹ - ngụy đã mở những cuộc càn quét quy mô lớn, khốc liệt và đẫm máu ra vùng la Đrăng trong những năm 1965-1966 hòng dồn tất cả dân ra ven đường quốc lộ để tách lực lượng cách mạng với nhân dân. Nhưng chúng không dồn nổi dân mà còn bị giáng trả những đòn đánh như trận la Đrăng mùa khô 1965. Vùng đất còn lại là các xã sống hợp pháp với địch. Tuy nhiên, trên thực tế dịch không hoàn toàn kiểm soát được. nhất là các vùng cách xa trục đường giao thông. Về lực lượng vũ trang địa phương mỗi huyện có từ hai đến ba đại đội, mỗi xã có từ ba đến bốn trung đội. Tất cả các xã đều có cơ sở cách mạng hoạt động.
Về địch, chúng có 2 tiểu đoàn biệt động biên phòng số 81 và 82 đồn trú ở hai căn cứ Đức Cơ và Plei Me. Trên trục đường 19 kéo dài từ Đức Cơ đến Hòn Rồng, có 9 đại đội bảo an, 15 trung đội dân vệ, phần lớn đóng chốt trong quận lỵ Thanh An và các khu đồn Thanh Giáo, làng Dịt, Thanh Bình, Bầu Cạn... Nhìn chung địch yếu, mỏng, khả năng ứng cứu cho nhau kém.
Sư đoàn 320 lật cánh về hoạt động ở một địa bàn như vậy rõ ràng làm thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch, làm chỗ dựa cho phong trào cách mạng địa phương phát triển và quan trọng nhất là nếu ta chiếm được tuyến phòng thủ trên đường 19 kéo dài sẽ nối thông vùng giải phóng của ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai và Đắk Lắk, nổi vùng giải phóng Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ, mở rộng khu vực an toàn cho hành lang chiến lược, tạo ra thế trận vững chắc cho các chiến dịch quy mô lớn sau này. Ý nghĩa đó được lịch sử chứng minh, đặc biệt là chiến dịch Tây Nguyên mùa xuân 1975.
Phương châm chỉ đạo tác chiến của Sư đoàn 320 trong thời gian này là: Tích cực, chủ động, liên tục tiến công, kết hợp chặt chẽ giữa tiêu diệt lực lượng địch với giải phóng đất đai, giành giữ dân và xây dựng địa bàn. Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 19 tây gồm các đồng chí cán bộ cốt cán của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương. Chính ủy sư đoàn Phí Triệu Hàm được chỉ định làm Chính ủy kiêm Bí thư; Sư đoàn trưởng Kim Tuấn được chỉ định làm Tư lệnh. Việc thành lập Mặt trận Đường 19 tây sẽ tạo điều kiện và tiền đề xây dựng một thế trận tổng hợp mà trong đó bộ đội chủ lực là nòng cốt luôn rảnh rang, chủ động để giáng những đòn quyết định vào quân chủ lực ngụy, tạo điều kiện cho phong trào cách mạng ở địa phương phát triển toàn diện. biến vùng giải phóng thành pháo đài vừa sẵn sàng và chủ động tiến công địch ở bất cứ đâu, vào bất cứ thời gian nào.
Ngày 19 tháng 7 năm 1972, chiến dịch đánh địch mở dân của Sư đoàn 320 trên Mặt trận Đường 19 tây bắt đầu. Sư đoàn được tăng cường Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 671, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 470 phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt từ một đến hai tiểu đoàn địch, mở tất cả các "ấp chiến lược" trên đường 19 đoạn từ tây Thanh Bình đến đông Đức Cơ, có thời cơ thuận lợi, mở thêm một số ấp ở ngã ba đường 21 đến ấp Phú Nhơn trên đường 14. Trung đoàn 64 chúng tôi dùng Tiểu đoàn 8 hoạt động ở tây Thanh An. Để chuẩn bị cho nhiệm vụ đánh địch, giải phóng dân, Tư lệnh Kim Tuấn chỉ thị cho các đơn vị tổ chức hàng trăm đội công tác, được học tập bồi dưỡng nắm vững chủ trương, chính sách và có trình độ nhất định đối với công tác vận động quần chúng. Các huyện ủy huyện 4 và huyện 5 đã cử những cán bộ có năng lực tới giúp các đội công tác của sư đoàn tìm hiểu tình hình nhân dân, tìm hiểu phong tục tập quán của địa phương, giúp cho công tác vận động nhân dân được thuận lợi. Cùng thời gian này, anh Kim Tuấn Tư lệnh Mặt trận Đường 19 tây quyết định thành lập một đơn vị hỗn hợp lấy tên Đoàn 469, biên chế gồm: Một đại đội đặc công của sư đoàn, 3 đại đội hỏa lực (pháo mang vác cối, ĐKZ, 12,7), 2 đại đội địa phương của huyện 5, cùng một số tổ công tác.
Ngày 2 tháng 8 năm 1972, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 19 tây ra lệnh cho Đoàn 469 bao vây tiến công Đồn Tầm và chỉ thị cho Trung đoàn 64 chúng tôi dùng Tiểu đoàn 8 bố trí trận địa đánh cắt giao thông ở tây Thanh An. Đồng thời chỉ thị cho các đội công tác đột nhập vào "ấp chiến lược" làng Dịt phát động quần chúng nổi dậy, diệt ác phá kìm trở về làng cũ.
Bị uy hiếp mạnh, ngày 4 tháng 8, địch phải điều tiểu đoàn 89 biệt kích biên phòng từ thị xã Plei Ku về Thanh An lên giải tỏa cho Đồn Tầm. Tiểu đoàn 89 lọt vào trận địa phục kích của Tiểu đoàn 8, cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn này nổ súng quyết liệt diệt hơn trăm tên, số còn lại phải quay trở lại Thanh An.
Ngay đêm 4 tháng 8, bất chấp lệnh của trên, quân địch còn lại trong Đồn Tầm đã bỏ đồn tháo chạy. Mất Đồn Tầm, tư lệnh quân đoàn 2 ngụy vội vàng thành lập chiến đoàn 21 gồm tiểu đoàn 89 và tiểu đoàn 2 bảo an, có xe tăng và pháo binh yểm trợ mở cuộc hành quân tái chiếm những khu vực đã mất. Nắm được ý đồ của địch, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 19 tây một mặt lệnh cho Đoàn 469 nhanh chóng diệt đồn Chư Phổ, mở dân ấp Thanh Giáo. Mặt khác lệnh cho Trung đoàn 64 chúng tôi cho Tiểu đoàn 7 chiếm lĩnh điểm cao 605 chờ đánh quân địch đến khu vực này.
Chiến đoàn 21 ngụy chia làm hai hướng. Hướng thứ nhất do Tiểu đoàn 89 biệt kích biên phòng theo trục đường 19 vượt cầu Ia Púc lên Đồn Tẩm, Chư Phổ. Hướng thứ hai do tiểu đoàn 2 bảo an lên chiếm điểm cao 605, hỗ trợ cho hướng thứ nhất.
Sáng 8 tháng 9, tiểu đoàn 2 mới dò dẫm đến chân điểm cao 605 đã bị Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 64 chúng tôi đánh cho tơi tả. Gần trăm tên bị diệt, số còn lại vội vã tháo chạy trở lại Thanh An. Ở hướng thứ nhất, Tiểu đoàn 89 lần trước đã bị Tiểu đoàn 8 đánh một trận khiếp đảm, lần này mới tới phía đông cầu la Púc nghe tin tiểu đoàn 2 bị đánh đã chùn lại không dám tiến nữa. Bọn địch trong đồn Chư Phổ quá lo sợ đã bỏ đồn tháo chạy. Đoàn 469 cho người vào chốt giữ đồn này. Cùng thời điểm đó, trên hướng Đức Cơ. Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 671 được sự hỗ trợ của các lực lượng vũ trang nhân dân địa phương đã chặn quân địch ở Đức Cơ nống ra, rồi bí mật đột nhập vào ấp Chư Bồ diệt ác, phá kìm, trụ bám ở dây đánh địch.
Trên hướng Bầu Cạn - Hòn Rồng. Trung đoàn 48 đã tổ chức đánh cắt giao thông trên đường 19. Trung đội cối 82 huyện 5 kết hợp với trung đội bắn tỉa của Mặt trận Đường 19 tây và lực lượng du kích vây ép đồn Plei-me. Phong trào đánh địch, giành dân phát triển rộng khắp ở cả huyện 4 và huyện 5 tỉnh Gia Lai.
Chiến dịch phá ấp giành dân cơ bản đã giành thắng lợi. Suốt một dải từ Thanh An đến Đức Cơ, Chư Bồ (trên đường 19 tây) và khu vực Hòn Rồng - Mỹ Thạch Phú Mỹ (trên đường 14) không còn "ấp chiến lược" nào không bị phá. Hàng nghìn đồng bào được đưa về buôn làng cũ hoặc ra vùng giải phóng lập làng mới. Các tổ công tác vẫn bám dân, bám địa bàn, giúp nhân dân ổn định đời sống. Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 19 tây có thể tạm rảnh rang để nghiên cứu những trận tiến công lớn, đập tan cuộc hành quân giải tỏa của chiến đoàn 22 và sư đoàn 23 ngụy, mở rộng và giữ vững vùng địa bàn chiến lược quan trọng này.
Sau khi cân nhắc, tính toán, Tư lệnh Kim Tuấn đã chọn khu vực Đức Cơ làm điểm quyết chiến. Sở dĩ chọn Đức Cơ vì Tư lệnh Kim Tuấn cho rằng trong giai đoạn này, muốn tiến công ra vùng biên giới dứt khoát địch phải khai thông đường 19 và phải nối liền tuyến Thanh An, Đồn Tầm, Chư Bồ, Đức Cơ. Và sống chết địch cũng phải giữ bằng được Đức Cơ để khống chế con đường hành lang chiến lược của ta và làm bàn đạp sẵn sàng tiến công ra vùng giải phóng dọc biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia.
Đức Cơ là một căn cứ biệt kích, được địch xây dựng vững chắc từ năm 1965, có hệ thống lô cốt bê tông rất kiên cố, có nhiều hầm ngầm và hệ thống hào giao thông, tường chắn liên hoàn vững chắc. Trong căn cứ còn có một sân bay dã chiến khá tốt, máy bay C.130 có thể hạ cánh, cất cánh được. Từ lâu, địch coi Đức Cơ là lá chắn tây bắc Plei Ku.
Sau khi nghiên cứu kỹ hình thái bố trí của địch, Tư lệnh Kim Tuấn quyết định lựa chọn cách đánh Đức Cơ bằng phương pháp: vây ép dài ngày, vừa vây ép vừa đột phá, vừa bố trí đội hình sẵn sàng đánh quân giải tỏa, kéo lực lượng địch ra mà diệt.
Về sử dụng lực lượng: Dùng Tiểu đoàn 631 (vừa được Mặt trận tăng cường) và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 470 vây lấn ở hướng đông bắc Đức Cơ. Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 64 của chúng tôi và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 400 là lực lượng cơ động sẵn sàng đánh quân địch giải tỏa.
Trước mắt, Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 3 tập trung bao vây tiêu diệt tiểu đoàn 82. Ngày 10 tháng 10 năm 1972, tôi ra lệnh cho Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 3 bao vây tiểu đoàn 82 đang co cụm ở điểm cao 451. 4 giờ sáng ngày 11 tháng 10, hai tiểu đoàn của ta được lệnh nổ súng. Ngay từ đầu, bộ đội ta đã đánh trúng sở chỉ huy tiểu đoàn địch. Quân địch như rắn mất đầu tháo chạy tán loạn. Sau gần một giờ chiến đấu, quân ta làm chủ điểm cao, tiêu diệt hơn trăm tên, tiểu đoàn 82 bị loại khỏi vòng chiến đấu.
Cuộc tiến công chiến lược của quân và dân ta trên toàn miền đã bước sang tháng thứ 7. Trong 6 tháng, quân và dân ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực và binh khí kỹ thuật của địch. Ta đã tiêu diệt được các đơn vị cỡ trung đoàn, sư đoàn, đánh thiệt hại nặng nhiều sư đoàn khác trong đó có 2 sư đoàn dự bị chiến lược, buộc chúng sa lầy ở Mặt trận Quảng Trị. Ta đã phá vỡ được nhiều khu vực phòng ngự then chốt, mở ra một vùng giải phóng rộng lớn tương đối hoàn chỉnh. Toàn bộ khối chủ lực của ta không những đứng vững trên những địa bàn chiến lược ở rừng núi mà nhiều trung đoàn, sư đoàn đã thọc sâu được vào đồng bằng Khu 5, đồng bằng sông Cửu Long, tạo nên một so sánh lực lượng có lợi cho ta.
Do thắng lợi lớn của ta, vấn đề Việt Nam mà tổng thống Mỹ Ních-xơn đã cố tình làm cho mờ nhạt đi nay lại đang nổi lên thành vấn đề số một của nước Mỹ. Ních-xơn đang đứng trước những khó khăn chồng chất trong thời kỳ gay go, phức tạp nhất của năm bầu cử tổng thống ở Mỹ...
Trên mặt trận ngoại giao, chúng ta lại giáng tiếp một đòn tiến công quyết liệt bằng việc đưa ra bản dự thảo "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam". Phía Mỹ đã phải thừa nhận đây là một văn kiện rất quan trọng, mở đường cho Hội nghị Pa-ri về Việt Nam đi tới một giải pháp cơ bản. Nhưng ngay sau đó, phía Mỹ lại trì hoãn việc ký kết rồi lật lọng đòi thay đổi nhiều vấn đề cơ bản mà các bên tham dự hội nghị đã thỏa thuận. Trong khi đó, ở chiến trường, chúng ồ ạt tuôn vũ khí cho quân ngụy, ráo riết bắt lính đôn quân, tăng cường càn quét, "bình định", khống chế, kìm kẹp những vùng chúng tạm thời kiểm soát và tích cực tổ chức các cuộc hành quân lấn chiếm quy mô lớn ra vùng giải phóng.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta đang phát triển mạnh mẽ với triển vọng vô cùng tốt đẹp. Mỹ đang gặp khó khăn chồng chất, càng kéo dài chiến tranh chúng còn có thể bị thất bại to lớn hơn. Tình hình kinh tế, chính trị của nội bộ nước Mỹ đòi hỏi phải giải quyết vấn đề Việt Nam. Tương quan về sự đấu tranh giữa lực lượng cách mạng và lực lượng phản cách mạng cũng như giữa các nước lớn trên thế giới càng đòi Mỹ phải chấm dứt dính líu về quân sự ở Việt Nam. Vì vậy, khả năng kết thúc chiến tranh sớm có thể xảy ra. Ta tập trung mọi cố gắng làm cho khả năng này sớm trở thành hiện thực.
Theo chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên đề ra chủ trương hoạt động trong những tháng cuối năm 1972 là: tranh thủ thời cơ có lợi, tập trung mọi nỗ lực mở một chiến dịch tổng hợp quy mô lớn, đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị, tiêu diệt và làm tan rã lớn quân ngụy, chủ yếu là địa phương quân, giải phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn, giành cho được những địa bàn quan trọng.
Ngày 12 tháng 10 năm 1972, để hoàn chỉnh và giải phóng vùng bắc Kon Tum và mở thông đường hành lang vận chuyển, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên lệnh cho Trung đoàn 66 Sư đoàn 10 tiêu diệt cụm cứ điểm Plei Cần. Chỉ trong vòng 5 tiếng đồng hồ, Trung đoàn 66 được tăng cường Tiểu đoàn 37 đặc công được pháo binh sư đoàn chi viện đã tiêu diệt gọn tiểu đoàn 95 biệt động biên phòng quân ngụy.
Sau khi diệt xong căn cứ Plei Cần, Bộ Tư lệnh Mặt trận chỉ thị cho Trung đoàn 66 tiêu diệt căn cứ Đắc Siêng. Ngày 29 tháng 10 năm 1972, sau 30 phút tiến công, Trung đoàn 66 làm chủ hoàn toàn căn cứ Đắc Siêng.
Trở lại hướng của Mặt trận Đường 19 tây. Sau khi tiểu đoàn 82 bị loại khỏi vòng chiến đấu làm cho chỉ huy chiến đoàn 22 ngụy rất cay cú, chúng ném tiểu đoàn 80 xuống phía đông Đức Cơ trên đoạn Chư Bồ đi Chư Nghé. Tiểu đoàn 80 vừa đặt chân xuống đất thì đã bị Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 400 và Tiểu đoàn 631 chặn đánh. Tiểu đoàn 80 biệt động quân bị chia ra từng mảng, không thể liên lạc được với quân ở Đức Cơ. Ngày hôm sau, biết không còn cách nào trụ nổi, đại bộ phận tiểu đoàn 80 tháo chạy về Chư Nghé. Một số tìm đường luồn lách vào ấp Chư Bồ co cụm cùng số tàn quân của tiểu đoàn 82.
Việc chiến đoàn 22 bị đánh thiệt hại, có nguy cơ bị tiêu diệt đã làm cho bộ chỉ huy quân đoàn 2 ngụy hết sức bối rối. Chỉ huy trưởng chiến đoàn 22 hoang mang khiếp đảm, liên tục điện xin cấp trên cho rút bỏ căn cứ Đức Cơ. Nhưng bộ chỉ huy quân khu 2 kiên quyết bắt anh ta phải "tử thủ" và hứa sẽ quân tăng viện.
Ngày 21 tháng 10, liên đoàn 2 biệt động quân được tung vào vòng chiến. Các vị trí đổ quân và các thủ đoạn chiến thuật của bọn này cũng diễn ra như hành động của chiến đoàn 22. Đầu tiên, chúng đổ tiểu đoàn 23 xuống nam Đức Cơ với ý định đánh chiếm Phượng Hoàng, lấy đó làm bàn đạp đánh vào sau lưng lực lượng ta đang vây ép Đức Cơ. Đổ tiểu đoàn 22 xuống 0 Gia Tào, một vị trí nằm trên biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, nhằm đánh vào kho tàng và uy hiếp đường hành lang vận chuyển của ta.
Quan sát mọi hành động của địch, tôi báo cáo Tư lệnh Kim Tuấn dùng Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 64 và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 400 bao vây, tiến công tiểu đoàn 22 và 23 quân ngụy. Tiểu đoàn 23 vừa đặt chân xuống đất đã bị Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 3 bao vây, tiến công liên tục. Chúng bị thiệt hại nặng phải luồn rừng chạy về trụ lại ở nam Đức Cơ. Còn tiểu đoàn 22 vừa đổ xuống 0 Gia Tào bị Tiểu đoàn 50 - đơn vị Hậu cần Mặt trận Tây Nguyên vây đánh, phải vội vàng tháo chạy về co cụm với tiểu đoàn 23. Tối ngày 26 tháng 10, hai tiểu đoàn quân ngụy không còn sức tiếp tục chiến đấu đã bất chấp lệnh trên lui về ngã ba Phước Thiện.
Như vậy, niềm hy vọng cuối cùng vào quân cứu viện của chiến đoàn 22 và bộ chỉ huy quân đoàn 2 ngụy dã tan thành mây khói. Lực lượng trong căn cứ Đức Cơ càng bị vây ép chặt, địch trong căn cứ đứa chết, đứa bị thương ùn lại, lương ăn cạn dần, nước nôi thiếu thốn.
Căn cứ vào tình hình địch trong căn cứ Đức Cơ, Tư lệnh Kim Tuấn lệnh cho tôi, dùng toàn bộ Trung đoàn 64 (trừ Tiểu đoàn 8) vào trận đánh này. Ngày 31 tháng 10, các đơn vị được lệnh tiếp cận. Tiểu đoàn 63 bí mật dò mìn cắt rào. Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 400 được lệnh nổ súng đánh chiếm tuyến một và tuyến hai, thu hút sự chú ý của địch.
Sáng 1 tháng 11, chúng tôi đang kiểm tra lần cuối các mũi để hạ lệnh nổ súng thì 11 giờ, tiểu đoàn 63 biệt động quân đổ bộ xuống điểm cao 412 cách đông bắc Đức Cơ 4 ki-lô-mét. Chúng tôi nhận định: Địch đổ quân xuống là để tiếp cứu cho đồng bọn vừa thất trận ở Chư Bồ, từ đó triển khai đội hình vào sau lưng Tiểu đoàn 631 của ta đang vây ép Đức Cơ. Nhưng vì còn lạ nước lạ cái nên chúng đang phải thăm dò, chưa dám hành động ngay. Nên sử dụng Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64 nhanh chóng vây diệt tiểu đoàn ngụy này. Đồng thời lệnh cho Tiểu đoàn 631 và Tiểu đoàn 3 nổ súng tiến công căn cứ Đức Cơ.
Đúng 13 giờ ngày 1 tháng 11, hai trận địa cối 120 và 160 ly của ta bắt đầu nã đạn vào căn cứ Đức Cơ. Ngay loạt đạn đầu, cột ăng-ten giữa căn cứ địch đã gãy gục. Tiểu đoàn 631 và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 400 dùng mìn, bộc phá mở cửa và tiến vào bên trong. Trận đánh kéo dài suốt đêm. Địch cho máy bay B.52 giội bom rải thảm khu vực phía tây căn cứ. Đèn dù, pháo sáng của địch sáng rực như ban ngày. Đến 5 giờ sáng quân ta hoàn toàn làm chủ căn cứ Đức Cơ. Toàn bộ khu vực Đức Cơ, Chư Bồ được giải phóng. Trong khu vực lòng chảo huyện ly Đức Cơ, xác địch, xác xe, xác pháo rải rác khắp nơi. Căn cứ biên phòng kiên cố được coi là "niềm tin cậy" của vùng nam Tây Nguyên đã bị quân ta san bằng.
Trải qua 8 tháng liên tục chiến đấu từ chiến trường Kon Tum đến chiến trường Gia Lai, sức chiến đấu của sư đoàn nhìn chung giảm sút, quân số hao hụt, trang bị thiếu thốn. Đơn vị lại chưa một lần nghỉ ngơi, củng cố, chưa một lần được bổ sung quân số nên mỗi tiểu đoàn chỉ có trên hai trăm người. Nhưng nếu tính quân số chiến đấu thì cả tiểu đoàn chỉ còn trên một trăm tay súng. Địa bàn hoạt động lại rộng lớn.
Trước tình hình như vậy, Đảng ủy và Chỉ huy trung đoàn chúng tôi họp bàn làm thế nào để vừa tiêu diệt địch, vừa bám trụ địa bàn, bảo vệ được đất, bảo vệ được dân là một thách thức to lớn mà trung đoàn phải chấp nhận và tìm cách vượt qua. Tôi mạnh dạn đề xuất với Tư lệnh Kim Tuấn:
- Ta không nên rải quân trên một chính diện rộng từ Đức Cơ tới Chư Nghé, chiều sâu từ Phượng Hoàng tới Hòn Rồng vì quân số của các đơn vị quá ít, vận chuyển rất khó khăn. Nếu địch tập trung tiến công, ta sẽ không chốt chặn nổi, hoặc có chốt chặn cũng chỉ làm chậm bước tiến công của chúng. Lực lượng ta sẽ hao mòn, khi có điều kiện phản công sẽ không còn đủ sức. Nhưng nếu ta tập trung quân, tập trung vũ khí, khí tài các loại, chấp nhận trận "quyết chiến" thì liệu sau đó ta có quân để giữ, bám trụ lâu dài và đánh bại hoàn toàn ý đồ tiến công của địch hay không?
Sau khi nghe ý kiến của tôi, Tư lệnh Kim Tuấn hỏi:
- Theo ý cậu, ta nên làm gì?
Tôi trả lời:
- Trước mắt ta tạm ngừng tiến công địch, nhanh chóng xốc lại đội hình, sau đó tập trung lực lượng đánh có trọng điểm, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, khi có thời cơ mới phát động tiến công trên toàn tuyến. Trong khi đó vẫn phải bố trí những bộ phận chốt chặn tập kích nhỏ lẻ làm giảm tốc độ tiến công, gây hoang mang và mệt mỏi cho binh lính địch.
Tư lệnh Kim Tuấn chú ý nghe tôi nói, thi thoảng anh gật gật đầu vẻ tán thưởng. Cuối cùng anh nói:
- Ý của cậu có thể chấp nhận được, sẽ cho thực hiện ngay.
Ta vẫn phải dùng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 400 và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 470 làm lực lượng chốt chặn và hoạt động nhỏ lẻ.
Tôi với anh Kim Tuấn biết nhau từ kháng chiến chống Pháp, lúc tôi làm liên lạc ở Đại đội 737 Tiểu đoàn 884 Trung đoàn 48, khi đó anh làm Tiểu đoàn phó. Bài học đầu tiên, người thầy đầu tiên, tấm gương đầu tiên dẫn dắt tôi vào đời quân ngũ là anh. Tôi ước muốn noi theo và làm được những việc như anh đã làm. Điều đó nung nấu thôi thúc tôi học theo anh, làm theo anh ngay từ trận chống càn Tam Dương - Thạch Lỗi và hình ảnh anh Kim Tuấn - người chỉ huy, người thầy, người anh tôn kính vẫn sống trong tôi. Anh đã dạy cho tôi thế nào là dũng cảm, thế nào là điềm tĩnh, thế nào là quả đoán, thế nào là xông xáo, lanh lợi trong chiến đấu, vững chãi trong cơn nguy cấp, xả thân vì danh dự của đơn vị và trách nhiệm của bản thân vì sinh mạng của đồng chí đồng đội. Anh đã giúp đỡ tôi qua từng bước trưởng thành từ một chiến sĩ liên lạc trở thành chỉ huy cấp phân đội đến Tham mưu trưởng, Trung đoàn trưởng và Sư đoàn trưởng sau này.
Trở lại Mặt trận Đường 19 tây, trong khi quân ta tranh thủ củng cố, ngày 11 tháng 12 trung đoàn 45 ngụy sử dụng tiểu đoàn 1 có xe tăng, pháo binh yểm trợ đánh phá dọn đường từ đoạn Thanh Giáo lên điểm cao 426. Sau đó, dùng tiểu đoàn 3 đánh chiếm Bản Vuông. Trung đoàn 41 lợi dụng địa bàn của trung đoàn 45 dùng tiểu đoàn 1 lên chiếm Chư Bồ, thiết lập bàn đạp hỗ trợ cho tiểu đoàn 2 nhảy xuống Đức Cơ. Kế hoạch của địch là vậy, nhưng ngày 12 tháng 12, tiểu đoàn 1 trung đoàn 41 mon men tới đông Chư Bồ đã bị Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 400 chặn đánh quyết liệt, diệt gần một trăm tên, đồng thời tập kích liên tục làm cho chúng không thực hiện được mục đích tiến công. Sang ngày 14 tháng 12, địch dùng tiểu đoàn 2 trung đoàn 41, có xe tăng, pháo binh yểm trợ tiến vào Chư Bồ. Một lần nữa, tiểu đoàn ngụy này lại bị Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 400 chặn đánh, diệt 2 xe tăng với hơn 50 tên địch, buộc chúng phải quay trở lại Phước Thiện.
Đến ngày 15 tháng 12 năm 1972, thấy trung đoàn 41 không làm ăn gì được, địch dùng trung đoàn 45 vào tham chiến. Trung đoàn 45 sử dụng tiểu đoàn 1 được sự chi viện của xe tăng và pháo binh hùng hổ tiến lên Chư Bồ. Nhưng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 400 và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 470 đã chờ sẵn chúng ở hai bên đường 19 xông ra tiến công quyết liệt. Đến 16 giờ cùng ngày, trung đoàn 45 phải cho quân tiếp viện mới đến được Chư Bồ. Sau khi chiếm được Chư Bồ, trung đoàn 41 và trung đoàn 45 tập trung lực lượng đánh chiếm Đức Cơ và chốt giữ đường 19 đoạn từ Đức Cơ đến Thanh An.
Ngày 18 tháng 12, bộ tư lệnh quân đoàn 2 ngụy dùng máy bay lên thẳng đổ hai tiểu đoàn 11 và 22 biệt động quân vào sau hậu phương ta. Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 19 tây cho rằng đây là thời cơ tốt để ta tiêu diệt quân địch. Sau khi cân nhắc, Tư lệnh Kim Tuấn quyết định dùng Trung đoàn 48 đang củng cố ở tây nam Thanh Giáo tiêu diệt tiểu đoàn 22.
Chiều ngày 20 tháng 12 năm 1972, tiểu đoàn 22 về đến điểm cao 400, phía nam Thanh Giáo. Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 tổ chức trận địa phục sẵn ở đây. Tiểu đoàn trưởng Lê Quang Bình phát lệnh cho các trận địa hỏa lực súng cối, ĐKZ, 12,7 ly nổ súng mãnh liệt vào đội hình địch, chi viện đắc lực cho bộ binh xung phong. Lợi dụng pháo ta bắn, các mũi, các hướng khép dần đội hình bao vây chúng, hiệp đồng chặt chẽ với Tiểu đoàn 1 từ phía nam Tiểu đoàn 2 đánh thốc lên.
Trước nguy cơ bị tiêu diệt, chỉ huy tiểu đoàn 22 xin cứu viện khẩn cấp. Nhưng quân viện đường bộ không thể đến được. Suốt đêm 20 cho tới sáng ngày 21 tháng 12 từ Thanh Bình, đồn 30 bắn như đổ đạn vào khu vực này. Sau đó, địch cho máy bay lên thẳng HU.1A hạ cánh bốc tiểu đoàn 22. Các trận địa phòng không, súng máy 12,7 đi cùng bộ binh của ta đã nổ súng kịp thời, bắn rơi liền một lúc 5 chiếc máy bay lên thẳng, làm tiêu tan ý đồ bốc quân của chúng. Trung đoàn 48 đã diệt gọn tiểu đoàn 22 biệt động quân, diệt và bắt hơn 300 tên, thu hàng trăm súng, 15 máy vô tuyến điện, bắn rơi 7 máy bay.
Sau khi tiêu diệt gọn tiểu đoàn 22, đánh bại cuộc đổ bộ đường không của địch vào hậu phương ta trên khu vực tây Thanh Giáo, ngày 25 tháng 12, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên bổ sung nhiệm vụ cho Sư đoàn 320: Tập trung lực lượng tiêu diệt từng cụm địch, tiến tới đánh bại cuộc hành quân lấn chiếm trên đường 19 tây của chúng, đồng thời khi có giải pháp chính trị, sư đoàn nhanh chóng đưa lực lượng ra cắt chiếm từng đoạn trên đường 19 từ Đức Cơ đi căn cứ 30 và trên đường 14 từ Phú Mỹ đi Mỹ Thạch. Lúc này, địch rút trung đoàn 45 về tăng cường cho Mặt trận Bắc Kon Tum và đưa trung đoàn 41 về Plei Ku làm lực lượng dự bị. Như vậy, đến ngày 16 tháng 1 năm 1973, trên Mặt trận Đường 19 tây từ Đức Cơ đến căn cứ 30 chỉ còn tiểu đoàn 23 biệt động quân đóng ở căn cứ 30. Bộ Tư lệnh sư đoàn cho đây là thời cơ thuận lợi để giải phóng Đức Cơ - Thanh Giáo, ép địch về căn cứ 30, giành lại đoạn đường 19 từ căn cứ 30 đến Đức Cơ. Nhiệm vụ tiêu diệt tiểu đoàn 81 được giao cho Trung đoàn 64 chúng tôi.
6 giờ 30 phút ngày 18 tháng 1 năm 1973, tôi ra lệnh tiến công tiểu đoàn 81. Các trận địa pháo của ta được lệnh bắn thử. Ngay loạt đạn đầu đã trúng đội hình địch. Tôi lệnh pháo bắn cấp tập. Căn cứ Chư Bồ rung lên trong tiếng nổ rên, khói bụi mịt mù. Lợi dụng pháo bắn, Tiểu đoàn 7 cho nâng đội hình, pháo ngừng bắn, cả tiểu đoàn đồng loạt xung phong đánh thẳng vào sở chỉ huy địch. Ở phía nam Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 400 dũng cảm băng qua bãi trống, xông thẳng vào đội hình địch đang tháo chạy theo đường 19, xé chúng ra thành từng mảng để tiêu diệt. Bọn địch khiếp đảm chỉ còn biết vứt súng, quảng ba lô giơ tay xin hàng.
Sau 2 giờ chiến đấu, Trung đoàn 64 và các đơn vị được tăng cường đã hoàn toàn làm chủ căn cứ Chư Bồ, diệt và bắt sống gần 300 tên, thu hơn 100 súng các loại, bắn rơi 4 máy. bay. Đây là lần thứ hai tiểu đoàn 81 bị tiêu diệt.
Tiểu đoàn 81 bị tiêu diệt quá nhanh trên căn cứ Chư Bồ làm cho quân đoàn 2 ngụy bất ngờ đến sửng sốt. Chúng quyết đánh một "canh bạc" cuối đó là tung nốt tiểu đoàn 23 ở tây Thanh An xuống Đức Cơ. Tư lệnh Kim Tuấn điện cho tôi:
- Anh Tiến! Anh tập trung lực lượng tiêu diệt gọn tiểu đoàn 23 trong thời gian nhanh nhất.
Tôi trả lời:
- Tôi sẽ chấp hành ngay.
Tôi cùng tham mưu trưởng, trưởng ban tác chiến, trình sát, công binh và các tiểu đoàn trưởng lên đường. Cả Trung đoàn 64 và các đơn vị tăng cường lại dốc sức chạy đua với thời gian để bao vây địch ở Đức Cơ. Một phương án tác chiến được hình thành và được thực hiện ngay.
17 giờ ngày 20 tháng 1 năm 1973, pháo binh chiến dịch của ta trút đạn xuống Đức Cơ. Khói bụi bốc lên mù mịt. Pháo ngừng, tôi ra lệnh cho Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 9 đánh chiếm khu vực đầu cầu, rồi phát triển vào tung thâm. Quân địch lợi dụng hầm hố, ngõ ngách trong căn cứ luồn lủi về phía tây bắc đồn chống trả. Trận đánh trở nên quyết liệt. Địch dùng đủ loại vũ khí, kể cả lựu đạn hóa học, nhằm đẩy ta ra, kéo dài thời gian chờ quân cứu viện.
Cho đến sáng ngày 21 tháng 1, sau khi đã dùng đủ các loại pháo binh và máy bay đánh phá vào khu vực quân ta, địch đưa đại đội cuối cùng còn lại lên tăng cường cho Đức Cơ. Tôi lệnh cho Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 400 vây lõng ở phía đông bắc Đức Cơ ra vây diệt đại đội này. Sẵn tâm lý tình thần rệu rã nên Tiểu đoàn 3 vừa nổ súng được 15 phút, đại đội địch mạnh đứa nào đứa nấy chạy. Quân địch ở căn cứ Đức Cơ chống cự tuyệt vọng và cuối cùng bị Trung đoàn 64 tiêu diệt gọn.
Sáng ngày 26 tháng 1 năm 1973, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320 điện cho Trung đoàn 48: "Khẩn trương tổ chức cho Tiểu đoàn 2 và các lực lượng phối thuộc hành quân xuống đường 14 phối hợp với Tiểu đoàn 12 tỉnh đội Gia Lai chiếm cắt một đoạn trên khu vực giữa Phú Mỹ đi Mỹ Thạch. Thời cơ đã đến, không thể chần chừ".
Mặc dù Tiểu đoàn 2 rút đi làm nhiệm vụ mới, Tiểu đoàn 1 và các bộ phận còn lại của Trung đoàn 48 vẫn quyết tâm tiêu diệt căn cứ 30 trước giờ ngừng bắn.
Suốt đêm 26 rạng sáng ngày 27 tháng 1, Tiểu đoàn 1 được các loại hỏa lực chi viện, sau nhiều lần đột phá đã làm chủ căn cứ 30. Thừa thắng, Tiểu đoàn 1 truy kích địch tới làng Dịt. Đến chiều ngày 27 tháng 1 năm 1973, Sư đoàn 320 đã làm chủ một vùng rộng lớn dài hơn 30 ki-lô-mét từ Đức Cơ tới làng Dịt.
Hiệp định Pa-ri được ký kết. Mấy ngày sau, phái đoàn quân sự bốn bên đã tới Đức Cơ đặt cơ quan đại diện để kiểm soát vùng cửa khẩu này. Đức Cơ trở thành vùng giải phóng của ta.
Hiệp định Pa-ri được ký kết là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta. Nhưng đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn đã phá hoại Hiệp định một cách có hệ thống.
Chúng vẫn tiếp tục dùng quân ngụy đẩy mạnh kế hoạch "bình định" lấn chiếm các vùng giải phóng của ta. Kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ" của lực lượng quân đoàn 2 ngụy được thực hiện ngay trước giờ lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực và nhằm vào hai mục tiêu là vùng giải phóng Võ Định, tỉnh Kon Tum và Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.
Từ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973 trở đi, chúng liên tục mở các cuộc tiến công lấn chiếm với quy mô từ một trung đoàn đến một sư đoàn và sư đoàn tăng cường, kết hợp với nhiều máy bay, pháo binh, thiết giáp đánh phá ác liệt để giải tỏa các trục đường giao thông và chiếm một số vị trí có giá trị chiến dịch, chiến thuật ở đường 14, 19, 21 phía bắc - tây bắc thị xã Kon Tum và phía tây - tây nam thị xã Plei Ku.
Quân và dân Tây Nguyên chưa được hưởng một ngày hòa bình trọn vẹn đã phải bước vào cuộc chiến đấu chống địch lấn chiếm, kéo dài triền miên suốt nhiều tháng trời. Cả Tây Nguyên về cơ bản vẫn giữ vững được vùng giải phóng đã mở ra trong năm 1972. Địch chỉ giải tỏa được một số điểm ta mới chiếm lĩnh trước ngày 28 tháng 1 và cải thiện được một phần thế phòng ngự ở phía tây đường 14.
Trong đấu tranh với địch, ta đã phát triển được nhiều hình thức đấu tranh phong phú, song song với đòn trừng trị bằng quân sự, trên các điểm tiếp xúc giữa hai bên. Ngày 3 tháng 4 năm 1973, tiểu đoàn 62 biệt động quân chốt ở Đồn Tẩm, sau nhiều lần bị đẩy đi lấn chiếm và bị ta đánh thiệt hại nặng, vẫn như mọi lần, chúng vừa mò vào khu vực của ta, lập tức bị đánh phủ đầu. Quân lính tháo chạy tán loạn, để lại trận địa chiếc xe tăng M48 và nhiều xác chết. Tranh thủ thời cơ này, chiến sĩ ta dùng máy vô tuyến và loa kêu gọi cho phép chúng ra lấy xác đồng bọn. Bọn chỉ huy làm ngơ. Bộ đội ta tiếp tục tố cáo, lên án hành động vô nhân đạo của bọn sĩ quan và kêu gọi anh em binh sĩ đấu tranh đòi đưa xác anh em họ về chôn cất. Cực chẳng đã, chúng phải chấp nhận những quy định của ta, vác cờ trắng ra, xin phép đưa đồng bọn về.
9 giờ sáng ngày 9 tháng 4, tên sĩ quan địch đến gặp đồng chí Toàn giám sát việc nhặt xác, anh ta tự giới thiệu tên là Triêm. trung úy được chỉ huy trưởng liên đoàn 2 biệt động quân ủy nhiệm làm việc này và xin phép cho thi hành phận sự.
Thấy xác chết lâu ngày bị phơi nắng trương phênh, mùi hôi thối nồng nặc bọn lấy xác khạc nhổ liên hồi, làm qua quýt. Đồng chí Toàn nói: "Đây là xác chiến hữu của các anh, vậy mà các anh làm ăn thế này à?". Tên Triêm bối rối, nín lặng. Một tên lính phát hiện quả mìn, mặt xám ngoét, lùi lại nói: "Tôi thiệt tình... không biết gỡ mìn". Tên Triêm liền túm cổ áo tên lính giúi xuống bắt gỡ và vung ra những lời tục tần. Thấy vậy, Toàn tiến lại bảo: "Mìn các anh gài mà không gỡ nổi sao?". Rồi bằng một động tác thành thạo, anh gài chốt an toàn, tháo kíp ném ra xa. Bọn lính trố mắt khâm phục còn tên Triêm lắp bắp mấy câu cảm ơn rồi lảng ra chỗ khác. Tên lính bị túm cổ áo nói nhỏ với Toàn: "Ông là sĩ quan tâm lý đấy, làm việc này ổng được thưởng tiền". Hồng, chiến sĩ địch vận của ta nói luôn: "Các anh thấy không, đi lính chiến phải chết uổng mạng mà người ta đối xử tàn tệ như thế đấy". Toàn nói to cho mọi người cùng nghe: "Tôi mong từ đây về sau phía các anh đừng bao giờ phải làm lại việc này".
Trước hành động kiên quyết của ta, quân ngụy buộc phải cam kết không vi phạm Hiệp định, cùng nhau xây dựng: "nhà hòa hợp" để có thể gặp gỡ trao đổi với nhau.
"Nhà hòa hợp" được dựng lên, trang hoàng đẹp, dán tranh ảnh, văn bản Hiệp định Pa-ri, chính sách 10 điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Binh lính thường ra xem, có điều kiện để bộ đội ta tuyên truyền chủ trương, chính sách của Chính phủ cách mạng, kêu gọi họ không đi lấn chiếm, quay về với gia đình... Đồng thời vạch trần những luận điệu vu khống, xuyên tạc của sĩ quan tâm lý chiến làm cho binh lính địch hiểu rõ về cách mạng.
Ở các địa điểm tiếp xúc giữa hai bên ở làng Dịt, làng Poóc... chiến sĩ ta rất chững chạc, đàng hoàng, ôn hòa, lịch thiệp, giải thích cho hàng trăm, hàng nghìn lượt binh sĩ địch nghe về các điều khoản của Hiệp định Pa-ri, về thắng lợi to lớn của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Bộ đội ta còn nói rõ nội dung cụ thể Chính sách 10 điểm của cách mạng đối với binh sĩ, gia đình binh sĩ và nhân viên ngụy quyền. Các chiến sĩ ta cũng rất cứng rắn, kiên quyết khi dùng những lý lẽ sắc bén để đập lại luận điệu xảo trá hoặc những yêu cầu láo xược của những sĩ quan chỉ huy ngoan cố.
Tại "nhà hòa hợp" ở làng Dịt, trước những bằng chứng không thể chối cãi do ta đưa ra, viên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn biệt động số 81 đã phải ký vào biên bản nhận tội đã vi phạm hiệp định.
Cùng với bộ đội, nhân dân ta trên các vùng bị địch lấn chiếm đã dựa vào pháp lý của hiệp định, đấu tranh không khoan nhượng với địch. Lính của tiểu đoàn 82 biệt động quân ở đồn Me mò vào làng 0 Xã 10. Thấy nhân dân treo cờ giải phóng, chúng bắt dân hạ cờ, đồng bào kéo đến vây quanh cột cờ, nói: "Đây là vùng giải phóng! Cờ này là cờ của cách mạng, ai hạ thì chết".
Địch xông đến, đồng bào cản lại. Một tên dọa bắn, đồng bào vẫn không nao núng nói: "Lính cộng hòa bắn đồng bào, bộ đội giải phóng sẽ trừng trị".
Trước thái độ kiên quyết của đồng bào ta, tên chỉ huy phải hạ giọng: "Vậy thì đồng bào hãy tạm hạ xuống để chúng tôi đi qua rồi lại treo lên. Nếu không chỉ huy trong đồn phạt tụi tôi".
Đồng bào vẫn không nghe. Trong khi đó tiếng súng của bộ đội và du kích tiến công bọn lấn chiếm ở làng bên nổ vang, bọn địch hốt hoảng tháo chạy. Lá cờ giải phóng được đồng bào ta bảo vệ vẫn phấp phới tung bay.
Trong tháng 4 và tháng 5 năm 1973, bảy mươi binh lính địch đã tự nguyện mang súng trở về với cách mạng. Riêng ở khu vực Đồn Tầm, làng Dịt, bộ chỉ huy quân đoàn 2 ngụy ra lệnh: "Không được để đơn vị nào ở tuyến trước quá một tuần". Binh lính tiểu đoàn 62 biệt động quân, tuy đã bị đưa về tuyến sau vẫn tiếp tục bỏ ngũ trốn ra vùng giải phóng.
Suốt mấy tháng trời, địch tập trung lực lượng mở chiến dịch lấn chiếm có trọng điểm trên từng hướng. Chúng dùng thủ đoạn "cài lấn xen kẽ, dùi dần dài ngày" để đẩy lực lượng ta. Đối phó với tình hình đó, về mặt chỉ đạo, chỉ huy tác chiến, bộ đội ta kiên quyết, tích cực và liên tục đánh trả. Nơi nào bị đánh đau, chúng phải co lại và hòa hoãn trong từng thời gian. Những nơi chất lượng và hiệu quả chiến đấu của ta còn thấp, vận dụng phương châm kết hợp phản công và tiến công chưa tốt, chưa tích cực chủ động tiến công, cách đánh chưa rõ ràng, còn nhập nhằng giữa tiến công tiêu diệt địch và phòng ngự giữ đất, sử dụng lực lượng còn phân tán, nhỏ giọt, thiếu kiên quyết tập trung để dứt điểm từng chỗ... thì tác chiến giằng co kéo dài. Do nhiều thiếu sót đó, ta không thực hiện được những trận đánh đau, đánh hiểm, đánh tiêu diệt, không phá được chiến thuật mới của địch, chưa hoàn toàn đánh bại được âm mưu, ý đồ lấn chiếm của chúng. Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đã kịp thời mở hội nghị rút kinh nghiệm và bàn chuyên đề về chỉ đạo cách đánh của ta trong chống quân địch lấn chiếm bằng cả phản công và tiến công, phối hợp trên nhiều hướng cả phía trước lẫn phía sau.
Thực hiện chủ trương trên, đầu tháng 9 năm 1973, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định sử dụng Sư đoàn 320 mở một đợt tiến công vào khu vực phía tây thị xã Plei Ku, mục tiêu chủ yếu là Chư Nghé (Lệ Ninh) nhằm phân tán lực lượng địch, tạo điều kiện thuận lợi cho Sư đoàn 10 dánh địch lấn chiếm ở phía bắc thị xã Kon Tum.
Cứ điểm biên phòng Chư Nghé do tiểu đoàn 80 biên phòng chiếm giữ, được xây dựng khá kiên cố trên một ngọn đồi và được chia làm hai khu vực A và B nổi thông nhau bởi các chiến hào. Xung quanh cứ điểm được bao bọc bằng 14 lớp rào thép gai các loại, trong hàng rào địch bố trí mìn dây bộ binh dày đặc. Cứ điểm Chư Nghé nằm gần sát vùng giải phóng của ta, cách thị xã Plei Ku 30 ki-lô-mét. Khi xảy ra tác chiến địch dễ bị cô lập, không một trận địa pháo nào của địch chi viện được.
Trung đoàn 48 được tăng cường Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 470, một đại đội xe tăng, hai đại đội cao xạ, tám khẩu pháo mặt đất đảm nhiệm tiến công căn cứ Chư Nghé.
13 giờ ngày 22 tháng 9, Trung đoàn 48 được lệnh nổ súng tiến công căn cứ Chư Nghé.
Trận đánh kéo dài đến 14 giờ cùng ngày. Trung đoàn 48 đã diệt gọn tiểu đoàn 8 biệt kích biên phòng, quân ta thu 50 tấn đạn. Điều quan trọng, đây là một trận tiêu diệt lớn ngay tại trung tâm xuất phát hành quân lấn chiếm của địch. Đối với vùng giải phóng tây nam Plei Ku và vùng hành lang chiến lược Bắc - Nam, việc nhổ căn cứ Chư Nghé (Lệ Ninh) có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Những con đường chiến lược, đường ống dẫn dầu vào vùng Đông Nam Bộ đang được mở gấp qua vùng này hoàn toàn giữ được bí mật cho đến mùa xuân 1975.
Sau trận Chư Nghé, Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định điều tôi về làm Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận Tây Nguyên. Tháng 10 năm 1973, tôi được ra Bắc dự tổng kết và tập huấn về nghệ thuật chiến dịch, phục vụ cho nhiệm vụ chiến lược mới.




Bình luận