top of page

Hồi ký "Ký ức Đời binh nghiệp". Chương 6. THAM GIA CHIẾN DỊCH GIẢI PHÓNG TÂY NGUYÊN

  • 7 thg 1
  • 72 phút đọc

Đã cập nhật: 5 thg 4

THÁNG 10 năm 1974, Bộ Chính trị họp đánh giá tình  hình và hạ quyết tâm chiến lược: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ở cả hai miền trong thời gian 2 năm 1975-1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên toàn miền Nam theo hướng có lợi cho ta, nhất trí thông qua phương án chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chiến lược trong năm 1975.

Kế hoạch bao gồm hai bước: Bước một, năm 1975, tranh thủ bất ngờ, tiến công lớn và rộng khắp trên toàn miền Nam, tạo điều kiện thuận lợi để thực hành tổng công kích và tổng khởi nghĩa trong năm 1976. Bước hai, năm 1976 là năm tổng công kích và tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Bên cạnh chiến lược cơ bản hai năm, Bộ Chính trị còn dự kiến "kế hoạch thời cơ". Tinh thần cơ bản của kế hoạch này là khi thời cơ chiến lược đến sớm thì có thể giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Thời gian này, lực lượng địch trên chiến trường Tây Nguyên gồm có: quân đoàn bộ quân đoàn 2, sư đoàn 23 gồm ba trung đoàn: 44, 45 và 53, bảy tiểu đoàn biệt động quân gồm: 4, 6, 21, 22, 23, 24 và 25; ba mươi sáu tiểu đoàn bảo an; bốn trung đoàn xe tăng, xe bọc thép (380 chiếc); tám tiểu đoàn, bảy đại đội pháo binh (250 khẩu từ 105 đến 175 ly); một sư đoàn không quân (150 máy bay, trong đó có 24 máy bay chiến đấu).

Những người chỉ huy quân đội ngụy ở Sài Gòn cho rằng, đầu năm 1975 ta sẽ đánh lớn. Ở Tây Nguyên, chúng cho ta đang đứng trước ba sự lựa chọn: Một là, nếu đánh Buôn Ma Thuột ta chưa có khả năng khắc phục để đưa binh khí kỹ thuật, xe tăng và pháo hạng nặng vào. Hai là, nếu đánh Plei Ku ta phải có hai quân đoàn, nhưng hiện thì ta mới có hai sư đoàn là Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320, cùng ba trung đoàn bộ binh độc lập và một số trung đoàn binh chủng. Khả năng duy nhất còn lại để ta lựa chọn sẽ là thị xã Kon Tum. Ở Kon Tum ta đã có quân bố trí sẵn xung quanh và ta cũng đã đánh vào thị xã này vài lần. Vì vậy, địch lấy Kon Tum và Plei Ku làm khu vực phòng ngự chủ yếu. Chúng bố trí ở khu vực này gần như toàn bộ lực lượng chủ lực ở Tây Nguyên, trừ trung đoàn 53 giữ thị xã Buôn Ma Thuột.

Tháng 6 năm 1974, trước khi anh Vũ Lăng - Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu vào chiến trường Tây Nguyên thay anh Hoàng Minh Thảo giữ chức Tư lệnh Mặt trận, anh Lăng đã được lãnh đạo Bộ Tổng tham mưu gợi ý sơ bộ về nhiệm vụ tác chiến năm 1975 của khối chủ lực Tây Nguyên.

Đầu tháng 9 năm 1974, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chính thức giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch Nam Tây Nguyên. Khu vực tác chiến chủ yếu là Đức Lập. Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Mặt trận đã nghiên cứu quán triệt phổ biến cho các ngành liên quan chuẩn bị. Phòng Tác chiến chúng tôi lập kế hoạch chuẩn bị chiến trường ở hướng Đức Lập.

Trung tuần tháng 9 năm 1974, các doàn tiền trạm, trình sát thuộc Bộ Tham mưu, Cục Hậu cần và các binh chủng dà lần lượt lên đường vào Nam Tây Nguyên. Chúng tôi xác định nhiệm vụ của bộ phận đi trước là trinh sát địa hình, nắm dịch, nghiên cứu xác định các vị trí kho trạm, bến vượt, cung trạm vận chuyển và các tuyến tập kết của bộ đội. Các chiến sĩ Trung đoàn 29 thông tin cũng được lệnh vào Nam Tây Nguyên phục vụ cho công tác chuẩn bị chiến trường và nghiên cứu triển khai mạng thông tin chiến dịch.

Ngày 12 tháng 9, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 7 công binh, Tiểu đoàn 17 công binh Sư đoàn 10 và một đại đội tân binh mới bổ sung được giao nhiệm vụ xây dựng mạng đường sá Đức Lập, xuất phát. Từ vùng núi cao phía bắc tỉnh Kon Tum, các đơn vị đã vượt chặng đường 300 ki-lô-mét đường rừng đến vùng Đức Lập. Ngày 28 tháng 10 các đơn vị nhập tuyến triển khai nhiệm vụ làm các con đường 6B, 2B, N1, N5 phía bắc Đức Lập. Trung đoàn cao xạ 234, Trung đoàn pháo binh 40, Trung đoàn xe tăng 273, Sư đoàn 10 gấp rút sửa chữa, khôi phục lại trục đường từ vị trí đóng quân ra đến đường chính. Mưa lũ bị xói mòn hư hỏng, cán bộ, chiến sĩ ta phải lao động cật lực mỗi ngày chín, mười tiếng đồng hồ, đến tháng 11, công việc sửa chữa đường sá đã hoàn thành.

Ngày 10 tháng 11, Tiểu đoàn 4 cầu phà Trung đoàn 7 bắt đầu thi công bắc cầu Pô Cô Hạ, Diên Bình, Đắc Mót. Sau khi bắc xong cầu trên đường 14 và 18, Tiểu đoàn 4 tiếp tục lên đường. Trên suốt chặng đường dài từ Kon Tum vào Đắk Lắk, các chiến sĩ công binh phải vật lộn với sông nước, khẩn trương bắc cầu qua các con sông, họ phải đi xa từ 3 đến 5 ki-lô-mét khai thác gỗ làm cầu. Anh em dùng ca nô chuyên chở vật liệu về bến và chỉnh cầu, ghép phà. Ngày 12 tháng 12, chiếc cầu phao trọng tải 50 tấn được bắc qua sông Pô Cô. Bốn ngày sau chiếc cầu phao thứ hai nổi hai bờ sông Sê-rê-pốc khai thông tuyến đường vận chuyển chiến dịch.

Cuối tháng 10 năm 1974, anh Nguyễn Quốc Thước -quyền Tham mưu trưởng Mặt trận Tây Nguyên được Bộ Tư lệnh Mặt trận cử ra Hà Nội báo cáo tình hình và nhận chỉ thị của Bộ Quốc phòng.

 

1 giờ sáng ngày 29 tháng 11 năm 1974. anh Nguyễn Quốc Thước về đến Sở chỉ huy Mặt trận. 6 giờ 30 phút sáng 29 tháng 11, Đảng ủy Mặt trận họp, chúng tôi cho vệ binh táng cường canh gác cẩn mật. Anh Nguyễn Quốc Thước báo cáo mọi công việc đã làm với Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp về nhiệm vụ sắp tới của chiến trường Tây Nguyên, những lời căn dặn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Văn Tiến Dũng.

Cuộc họp Đảng ủy dưới sự chủ trì của anh Đặng Vũ Hiệp -Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Mặt trận và anh Vũ Lăng - Tư lệnh, Phó Bí thư Đảng ủy Mặt trận diễn ra rất sôi nổi, nhất là xung quanh nhiệm vụ, phương châm tư tưởng chỉ đạo, những mục tiêu cần phải đạt được, những dự kiến về thời gian cũng như những tình huống lớn có thể xảy ra, những vấn đề khó khăn cần tập trung khắc phục để chiến dịch giành thắng lợi lớn. Cuối cùng Đảng ủy ra Nghị quyết về quyết tâm thực hiện nhiệm vụ trên giao một cách chủ động, sáng tạo, kết hợp chặt chẽ, phát huy sức mạnh ba thứ quân. trên cơ sở sức mạnh ba mũi giáp công tới đòn quyết định của khối chủ lực, tiêu diệt và làm tan rã lớn quân địch.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến dịch, Đảng ủy Mặt trận kết luận: Vấn đề có ý nghĩa quyết định đầu tiên là công tác chuẩn bị chiến trường phải thực sự chính xác và tỷ mỷ

Sau khi có nghị quyết của Đảng ủy mặt trận, cơ quan tham mưu mà nòng cốt là phòng tác chiến chúng tôi khẩn trương bắt tay ngay vào việc xây dựng kế hoạch. Tôi và anh Nguyễn Quốc Thước làm kế hoạch công tác chuẩn bị chiến trường trên cơ sở quyết tâm sơ bộ đã được xác định. Với cương vị là người chủ trì cơ quan tác chiến, tôi chịu trách nhiệm tổ chức việc đi chuẩn bị chiến trường, xây dựng kế hoạch chiến dịch bao gồm: kế hoạch triển khai đường cơ động trên các hướng, các mũi chiến dịch, kế hoạch cơ động lực lượng, kế hoạch nghi binh chiến dịch, kế hoạch tập kết bộ đội, kế hoạch bảo đảm hậu cần kỹ thuật... Đồng thời lập kế hoạch tiếp nhận cơ sở vật chất, gạo, dạn, thuốc men, tiếp nhận các đơn vị mới đến tăng cường các đơn vị binh chủng kỹ thuật của Bộ phải được tổ chức chu đáo, bí mật, an toàn. Công tác bảo quản, sửa chữa vũ khí, phương tiện xe máy phải bảo đảm tối đa hệ số kỹ thuật các phương tiện hiện có. Công tác đảng, công tác chính trị tư tưởng phải nhằm nâng cao ý chí quyết tâm chiến đấu, sức mạnh chiến đấu tổng hợp của mọi đơn vị, mọi binh chủng, phát động thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử, với khẩu hiệu hành động: "Trường Sơn chuyển mình, Pô Cô dậy sóng, quét sạch quân thù, giải phóng Tây Nguyên".

Về công tác chuẩn bị chiến trường, có việc trục trặc trong khi anh Nguyễn Quốc Thước ra Hà Nội nhận nhiệm vụ, Bộ Tổng tham mưu đã có điện dự báo cho Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên hướng tập trung chủ yếu của chiến dịch là Gia Nghĩa, nên trước đó đã có bộ phận đi chuẩn bị chiến trường ở hướng đó, nay có sự thay đổi về mục tiêu là Đức Lập, hướng Buôn Ma Thuột, nên phải điện cho bộ phận đó trở về, hợp với đoàn chúng tôi do Tư lệnh Vũ Lăng chỉ huy để chuẩn bị theo phương án mới - Đức Lập. Tiêu diệt cụm cứ điểm Đức Lập, kéo quân địch từ Buôn Ma Thuột ra để tiêu diệt, giải phóng vùng đất rộng lớn phía tây tỉnh Đắk Lắk, có thời cơ đánh vào Buôn Ma Thuột.

 

Tôi nhớ, hôm chuẩn bị căn cứ Đức Lập, anh Vũ Lăng quyết định vào tận hàng rào quan sát. Anh Vũ Lăng là Tư lệnh sinh hoạt cùng chi bộ tác chiến do tôi làm bí thư. Trước quyết định bất ngờ của anh, tôi nói:

- Báo cáo anh, việc vào trinh sát cứ điểm anh để tôi, anh Hồ Đệ (Sư đoàn trưởng), anh Kiệp (Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66) và các tiểu đoàn trưởng cùng trinh sát đi là được rồi. Anh vào gần như vậy nếu xảy ra điều gì thì ảnh hưởng đến nhiệm vụ chung.

Anh Vũ Lăng:

- Vấn đề đánh Đức Lập, cho phép Trung đoàn 66 đánh trong một ngày và một đêm là phải dứt điểm. Đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, đánh thắng nhưng thương vong ít để trung đoàn về làm lực lượng dự bị chiến dịch. Mình không đi thì không an tâm.

Nói rồi, anh đưa khẩu súng ngắn cho đồng chí công vụ và bò vào hàng rào. Quan sát xong, chúng tôi quay ra, quên đồng chí công vụ còn trong vị trí tập kết, tôi phải giao cho ba trinh sát quay trở lại đón cậu ta.

 

Đoàn chúng tôi quay sang căn cứ Núi Lửa, đây là căn cứ nhỏ hơn nhiều căn cứ Đức Lập. Anh Vũ Lăng giao nhiệm vụ cho anh Hồ Đệ - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 10 và anh Nguyễn Đức Cẩm -Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28. Anh Vũ Lăng nói:

- Anh Đệ và anh Cẩm đã nhìn rõ căn cứ Núi Lửa. Tôi giao cho Trung đoàn 28 chỉ được đánh căn cứ này trong vòng 45 phút, phải dứt điểm, anh có làm được không?

Anh Cẩm:

- Báo cáo tư lệnh, chúng tôi sẽ thực hiện nhiệm vụ của tư lệnh giao.

- Thế thì tốt, cứ thế nhé!

Một tư lệnh chiến trường đi trinh sát thực địa với chỉ huy cấp dưới khi giao nhiệm vụ tiến công tiêu diệt địch khẳng định thời gian diệt gọn địch và làm chủ chiến trường trên từng điểm tác chiến cụ thể, chứng tỏ là một chỉ huy dày dạn trận mạc và có nhãn quan về nghệ thuật quân sự sắc bén. Tôi thấy yêu mến và khâm phục anh Vũ Lăng ngay từ những ngày đi chuẩn bị chiến trường; đến khi diễn biến chiến đấu kết quả đúng như dự kiến anh Vũ Lăng đã kết luận làm tôi càng kính phục và tôi trọng anh là một người chỉ huy tài ba.

Đầu tháng 12, Sư đoàn 968 trước đây theo yêu cầu của bạn. sang hoạt động ở Hạ Lào, nay được lệnh hành quân vào Tây Nguyên. Ngày 15 tháng 1 năm 1975, sư đoàn đã vào vị trí tập kết T73 Tây Nguyên, xe pháo an toàn, bộ đội khỏe mạnh.

Cuối tháng 12 năm 1974 - những ngày giáp Tết, Bộ Tổng tư lệnh quyết định điều thêm Sư đoàn 316 từ Nghệ An vào Tây Nguyên. Đoàn xe gồm hơn 500 xe ô tô hành quân theo tuyến đường Trường Sơn chở cán bộ, chiến sĩ sư đoàn rời khỏi Nghệ An hướng ra tiền tuyến. Sư đoàn 316 đến chiến trường thì đất nước đã vào xuân, chiến dịch đang ở giai đoạn chuẩn bị nước rút.

Công việc chuẩn bị chiến trường đang theo hướng Đức Lập thì ngày 12 tháng 1 năm 1975, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên nhận được điện của Bộ Tổng tham mưu do đồng chíLê Ngọc Hiền - Phó Tổng tham mưu trưởng ký phải chuẩn bị thêm mục tiêu Buôn Ma Thuột.

 

Việc triển khai chuẩn bị chiến trường đang bề bộn, nay lại bổ sung mục tiêu Buôn Ma Thuột - một mục tiêu rất lớn. Cơ quan tác chiến chúng tôi lại phải điều chỉnh kế hoạch chuẩn bị chiến trường, bố trí cán bộ cơ quan, trinh sát chuẩn bị tiếp cận điều tra mục tiêu Buôn Ma Thuột. Tôi và Tham mưu trưởng Nguyễn Quốc Thước lập tức nghiên cứu tình hình thị xã Buôn Ma Thuột trên bản đồ để có quyết tâm sơ bộ làm cơ sở đi trinh sát thực địa với dự kiến hai khả năng: Trường hợp đánh Buôn Ma Thuột là thời cơ và trường hợp Buôn Ma Thuột là một mục tiêu bắt buộc. Sau khi lên phương án sơ bộ kế hoạch đi trinh sát thực địa, vì Buôn Ma Thuột là một thị xã lớn, khó xác định nên anh Nguyễn Quốc Thước báo cáo Tư lệnh Vũ Lăng. Nghe xong, anh Lăng phân công anh Nguyễn Năng - Phó Tư lệnh mặt trận cùng anh Lê Minh - Tham mưu phó và một số cán bộ cơ quan trực tiếp đi chuẩn bị. Anh Nguyễn Quốc Thước và Tư lệnh Vũ Lăng điều hành phối hợp các hướng để công tác chuẩn bị được ăn khớp với kế hoạch.

 

Bộ phận chuẩn bị chiến trường đang triển khai thì chiếu ngày 21 tháng 1 năm 1975, anh Lê Ngọc Hiến - Tổng Tham mưu phó từ Hà Nội vào phổ biến chỉ thị của Thường vụ Quân ủy Trung ương cho Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, Tham dự hôm đó có anh Vũ Lăng, anh Đặng Vũ Hiệp và các anh Nguyễn Năng, Nguyễn Quốc Thước, Lê Minh, anh Chủ nhiệm trinhh sát và tôi (Khuất Duy Tiến) - Trưởng phòng Tác chiến. Cục Chính trị có các anh Thái Bá Nhiệm Chủ nhiệm, Nguyễn Đằng - Phó Chủ nhiệm: Cục Hậu cần có các anh Đặng Văn Khoát - Chủ nhiệm, các anh Đỗ Thuyên, Lưu Sĩ Hiệp - Phó Chủ nhiệm...

Sau khi phân tích tình hình địch, tình hình ta trên chiến trường toàn miền, những thắng lợi năm 1974, đầu năm 1975 cũng như mục đích chiến dịch Tây Nguyên, anh Lê Ngọc Hiền nói:

- Thường vụ Quân uỷ Trung ương giao cho Mặt trận Tây Nguyên trong chiến dịch này phải tiêu diệt từ 4 đến 5 trung đoàn bộ binh, từ 1 đến 2 trung đoàn thiết giáp, nhiều liên đoàn, tiểu đoàn bảo an, nhiều đại đội dân vệ, bắt nhiều tù binh, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, thu nhiều binh khí kỹ thuật để đánh địch và dự trữ cho ta. Cố gắng đánh quy hoặc diệt sư đoàn địch, đánh thiệt hại nặng quân đoàn 2 ngụy. Giải phóng phần lớn hoặc hoàn toàn tỉnh Đắk Lắk, Phú Bổn, Quảng Đức, mở hành lang chiến lược nổi Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên với các tỉnh nam Khu 5 (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa) tạo thế mới trên chiến trường Tây Nguyên, chia cắt chiến lược địch, phá bình định của địch ở vùng đất bằng Tây Nguyên, hết sức coi trọng công tác phát động quần chúng, chấp hành tốt các chính sách. Rèn luyện và nâng cao trình độ bộ đội chủ lực, thực hiện càng đánh càng mạnh, cơ động nhanh chóng.

 Phạm vi chiến dịch như trên đã nói, gồm ba tỉnh Đắk Lắk, Phú Bổn và Quảng Đức. Trọng điểm là Đắk Lắk, mục tiêu chủ yếu là Buôn Ma Thuột. Hướng phát triển chủ yếu là Phú Yên (theo đường 7), hướng phối hợp là đường 19 và đường 21. Hướng kiểm chế và nghi binh là Plei Ku và Kon Tum.

Về sử dụng lực lượng, Bộ cho các anh sử dụng hết bình khí kỹ thuật, không hạn chế. Phương châm tư tường chỉ đạo là: mạnh bạo, chắc thắng, cơ động linh hoạt, bí mật bất ngờ, chú ý hết sức chủ động tạo bất ngờ trong suốt quá trình chiến dịch. Nắm vững tiêu diệt sinh lực địch, bắt tù binh thu vũ khí, càng đánh càng mạnh.

Như vậy, do tình hình phát triển rất mau lẹ nên trong vòng 5 tháng Bộ đã ba lần thay đổi nhiệm vụ đối với Tây Nguyên. Điều đó làm cho Bộ và cơ quan tham mưu, tác chiến chúng tôi gặp không ít khó khăn. Trước đó, chúng tôi đã tổ chức làm nhiều việc như: xây dựng kế hoạch tác chiến, thiết bị chiến trường, thông qua quyết tâm chiến đấu đã lấy tên chiến dịch là "Chiến dịch 275" (tức là tháng 2 năm 1795). Đến nay, chuyển mục tiêu chủ yếu từ Gia Nghĩa về Buôn Ma Thuột có nghĩa là chúng tôi phải lật cánh, gần như phải làm lại từ đầu, từ xây dựng phương án, kế hoạch tác chiến đến thiết bị chiến trường, tổ chức mạng lưới bảo đảm hậu cần với khối lượng công việc rất lớn mà thời gian còn lại không nhiều.

Một vấn đề làm cho Bộ Tư lệnh và cơ quan chúng tôi phải suy nghĩ, cân nhắc mất nhiều thời gian nhất là tổ chức đột phá vào Buôn Ma Thuột như thế nào? Vì đây là trận mở đầu và cũng là trận then chốt quyết định của chiến dịch. Tư lệnh Vũ Lăng, quyền Tham mưu trưởng Nguyễn Quốc Thước và Phòng Tác chiến chúng tôi có đêm chụm đầu vào tấm bản đồ thị xã Buôn Ma Thuột tỉnh toán. Anh Vũ Lăng nói với anh Quốc Thước và tôi:

 

- Ta phải tìm mọi cách nhữ địch về Kon Tum và Plei Ku rồi hãm chúng ở đó, tạo sơ hở ở Buôn Ma Thuột để ta đột phá thật nhanh vào đây tiêu diệt địch và làm chủ thị xã này trong thời gian ngắn nhất. Sau đó sẽ phát triển đánh chiếm Gia Nghĩa, Phú Bổn để mở rộng khu vực, làm bàn đạp phát triển tiến công các hướng khác. Để thực hiện được ý định này, vấn đề có tính quyết định là lập thế trận chiến dịch. Thế trận đó phải thể hiện chia cắt, vây hãm, vừa hãm vừa tiến công, đột phá, vừa bí mật, vừa nghi binh. Dừng một lát, anh Vũ Lăng nói tiếp:

- Tôi giao cho anh Tiến - Trưởng phòng Tác chiến làm Tổ trưởng Trung tâm nghiên cứu chiến thuật đề xuất phương án đánh thị xã Buôn Ma Thuột. Các anh nghiên cứu phương án, một là đánh địch không có phòng ngự dự phòng và một phương án nữa là đánh địch có phòng ngự dự phòng. Đánh địch không có phòng ngự dự phòng là số một, ta phải làm mọi cách để đánh địch không có phòng ngự dự phòng.

Khi kết thúc cuộc trao đổi tôi nhìn đồng hồ đã 1 giờ 15 phút. Trở lại hẩm tác chiến, chỉ còn mấy đồng chí thông tin trực máy và cán bộ tác chiến trực ban. Tôi ngả người trên tấm sạp dã chiến cho đỡ mỏi, nhưng bên tai luôn văng vẳng tiếng của Tư lệnh chiến dịch làm thế nào để đánh quân địch ở Buôn Ma Thuột không có phòng ngự dự phòng? Tôi sực nhớ ra phải nghi binh địch, làm cho nó tưởng ta đánh Kon Tum và Plei Ku, hút địch về phía đó. Một chiến dịch nghi binh đã dần hình thành trong tôi.

Mấy ngày nay tổ Trung tâm nghiên cứu chiến thuật do tôi làm tổ trưởng đã chuẩn bị xong phương án đánh quân địch ở thị xã Buôn Ma Thuột. Bộ Tư lệnh triệu tập hội nghị để nghe Tổ trung tâm báo cáo. Tôi còn nhớ tham dự cuộc họp ấy có Tư lệnh Vũ Lăng. Chính ủy Đặng Vũ Hiệp và các anh trong Bộ Tư lệnh, Thủ trưởng các cơ quan. Ngoài ra, còn có anh Lê Ngọc Hiến - Tổng Tham mưu phó.

 

Về phương án tác chiến, chúng tôi xác định ba mục tiêu chính: sở chỉ huy sư đoàn 23, tiểu khu bảo an tòa tỉnh trường và khu vực liên hợp pháo binh - thiết giáp; chủ yếu là sư đoàn 23. Ba mục tiêu trên là mục tiêu quan trọng lại cách biệt với khu dân cư, ta tập trung đánh vào đó sẽ đỡ thiệt hại cho nhân dân.

Phương án cụ thể: Sử dụng đặc công đánh chiếm trước khu kho Mai Hắc Đế, sân bay thị xã và sân bay Hòa Bình để cắt đứt đường không của địch. Lợi dụng tiếng súng, tiếng bộc phá của đặc công, ta đưa 12 trung đoàn bộ binh, xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ và công binh ở cách thị xã từ 10 đến 20 ki-lô-mét vượt qua sông Sê-rê-pốc và các hướng khác nhanh chóng lướt qua các mục tiêu vòng ngoài, dùng sức mạnh hiệp đồng binh chủng bộ binh, pháo binh và xe tăng đánh thẳng vào các mục tiêu chủ yếu trong thị xã.

Muốn thực hiện phương án này thì việc nghi bình thu hút và giam chân cho được 8 trung đoàn chủ lực quân ngụy ở lại bắc Tây Nguyên, không cho chúng về Buôn Ma Thuột trước khi ta nổ súng đánh vào thị xã này, đồng thời tổ chức lực lượng chặt đứt ba con đường chiến lược 14, 19 và 21 để cắt đồng bằng với Tây Nguyên, chia cắt Bắc Tây Nguyên với Nam Tây Nguyên.

Thời cơ để thực hiện phương án này là khi ta cắt đứt được đường 19 và đường 14, giam giữ phần lớn chủ lực địch ở bắc Tây Nguyên và bí quyết để thực hiện phương án này là tiến hành biện pháp nghi binh khôn khéo.

Là một cán bộ dày dạn, tuy rất nóng tính nhưng Tư lệnh Vũ Lăng lúc này rất bình tĩnh láng nghe những ý kiến khác nhau để phân tích, sàng lọc, chọn phương án tối ưu. Các ý kiến khác chỉ phân tích cụ thể và làm sâu thêm. Kết luận hội nghị, anh Vũ Lăng nói:

- Chúng ta đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột trên ba hướng, hướng bắc là chủ yếu, hướng nam và tây nam là hướng quan trọng. Đội hình tiến công có 5 mũi trong đó có một mũi thọc sâu. Về thủ đoạn chiến đấu trong phương án một: Kết hợp luồn sâu ém sẵn của bộ đội đặc công và bộ binh với đột kích của lực lượng binh chủng hợp thành cơ động từ xa bỏ qua các mục tiêu bên ngoài, thọc thẳng vào thị xã, bất ngờ tiến công và đột phá trận địa dịch dưới sự chi viện của pháo binh. Nếu xảy ra phương án hai ta sẽ "đánh chắc, tiến chắc và đột phá liên tục".

Chúng ta tranh thủ tạo điều kiện để đánh địch theo phương án một; địch không có phòng ngự dự phòng đồng thời sẵn sàng đánh địch ở phương án hai, có nghĩa là sư đoàn 23 ngụy đã về Buôn Ma Thuột phòng ngự trước cuộc tiến công của ta và thị xã. Sư đoàn này về Buôn Ma Thuột, tức là nó đã về hậu cứ của chúng - nơi được tổ chức phòng ngự vững chắc, kiên cố. Nhưng dù phải đánh phương án nào chúng ta cũng phải kiên quyết giành thắng lợi trong trận Buôn Ma Thuột vì đây là trận then chốt quyết định của chiến dịch.

Cuối cùng anh Vũ Lăng nói:

- Đây là một việc rất lớn, kết luận thì dễ nhưng làm sao các đồng chí Sư đoàn trưởng và chỉ huy các binh chủng kỹ thuật cơ quan thực sự nhất trí với kết luận, thông suốt và quyết tâm thực hiện thì mới đủ yếu tố chắc thắng. Thảo luận kỹ tuy có mất thêm thời gian, có khó khăn cho cơ quan nhưng sau này khi thực hiện mới tạo được sự nhất trí cao.

Sau cuộc họp có đồng chí Sư đoàn trường hỏi anh Nguyễn Quốc Thước và tôi:

- Đánh vào Buôn Ma Thuột, thực sự có khả năng chắc tháng không, hay lại như Kon Tum năm 1972?

Anh Quốc Thước trả lời:

- Về điều kiện và yếu tố chắc thắng thì đã rõ. Chỉ có phần chủ quan của ta trong điều hành thật khớp, dự kiến mọi tỉnh huống thật chi tiết và có kế hoạch xử lý chính xác thì nấm chắc phần thắng, không như đánh vào thị xã Kon Tum năm 1972 khi thời cơ không còn, tương quan lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi.

Nghe anh Quốc Thước nói vậy, đồng chí Sư đoàn trưởng cũng đành chấp nhận như vậy, nhưng trong bụng không phải không còn phân tâm vì mục tiêu thị xã Buôn Ma Thuột quá lớn, sợ khi tình huống khó khăn có thể bị vấp váp.

Vấn đề nghi binh, làm sao để bảo đảm khi ta đánh địch ở Buôn Ma Thuột trong trường hợp địch sơ hở, không có phòng ngự dự phòng. Điều mấu chốt quyết định là làm sao hút và giữ được chủ lực địch trên Kon Tum và Plei Ku, làm cho chúng tin rằng mùa khô năm 1975 ta vẫn đánh vào Kon Tum hoặc Plei Ku, một chiến trường mà ta quen thuộc. Do vậy, vấn đề tuyệt đối giữ bí mật phải đặt lên hàng đầu và cũng là một yếu tố quan trọng nếu không nói là quyết định để thắng dịch ở Buôn Ma Thuột. Nên nghi binh thực sự cũng là một mũi trực tiếp tiến công để đánh thắng địch ở Buôn Ma Thuột.

Thời gian này, từ tổng hành dinh quân đội Việt Nam cộng hòa đến cơ quan đầu não Mỹ ở Sài Gòn cùng quân khu 2 ngụy đang tập trung săn lùng, phát hiện hướng tiến công của ta ở Tây Nguyên. Một trong những biện pháp là theo dõi động tĩnh của Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320, vì trong nhiều năm qua hai sư đoàn này có mặt ở đâu thì chiến dịch chắc chắn diễn ra ở đó.

Tương kế tựu kế, kế hoạch của ta là khi Sư đoàn 10 và Sự đoàn 320, Lũ xe tăng 273, Trung đoàn pháo binh 40, Trung đoàn 7 công binh cơ động vào hướng nam thì toàn bộ máy thông tin vô tuyến điện 15W với các báo vụ viên làm việc lâu nay vẫn để nguyên và giữ chế độ làm việc hàng ngày như thường lệ, các đường dây điện thoại từ sư đoàn đến các trung đoàn vẫn để nguyên. Bọn thám bảo dò là phát hiện đường dây điện thoại vẫn còn: bọn kỹ thuật mà thám vô tuyến điện vẫn thường xuyên nhận được tín hiệu với các báo vụ viên của hai sư đoàn vẫn làm việc đều đặn và định hướng nguồn sống tại các địa điểm cũ. Bộ chỉ huy quân sự địch nghe báo cáo như vậy chúng cho rằng đã vào mùa khô 1974 - 1975 mà hai sư đoàn chủ lực ở Tây Nguyên vẫn án binh bất động chắc chắn mùa khô này mục tiêu của ta vẫn sẽ là Kon Tum hoặc Plei Ku.

Sau này viên tưởng Mỹ Sác-lơ Ti-mét, cố vấn của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã phải thốt lên: Bằng biện pháp nghi binh qua làn sóng điện, Việt cộng đã thành công trong kế hoạch giam chân bộ phận chủ yếu của quân lực Việt Nam cộng hòa thuộc quân khu 2 ở Plei Ku và Kon Tum.

Một sự cố có nguy cơ làm lộ kế hoạch khi địch phát hiện được anh Hồ Đệ, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 10 đang có mặt tại Sở chỉ huy Sư đoàn 320 ở tây nam Đức Cơ. Chúng dự đoán có thể hai sư đoàn trưởng bàn kế hoạch làm ăn lớn. Sự thể là thế này, trên đường vào Đắk Lắk anh Hồ Đệ có ghé qua Sư đoàn 320 thăm anh Kim Tuấn, không rõ vì sao mà dịch theo dõi được. Tình huống này rất có thể làm cho địch tính toán lại việc khẳng định trước đó của chúng và đặt cho cơ quan tham mưu chiến dịch chúng tôi phải làm cách nào để dịch không nghĩ là chỉ huy hai sư đoàn sẽ đi vào phía nam. Trước tình hình đó, anh Nguyễn Quốc Thước, quyền Tham mưu trưởng đề nghị Tư lệnh Vũ Lăng theo kế hoạch nghi binh lớn cho đánh sớm vào thị xã Plei Ku.

Kế hoạch triển khai làm đường cơ giới kéo pháo vào chiếm lĩnh để bắn vào hướng thị xã Plei Ku được khẩn trương thực hiện. Chúng tôi huy động công binh và nhân dân huyện 4 Gia Lai cùng tham gia. Nhân dân phấn khởi khoe với nhau việc làm đường để kéo pháo vào đánh thị xã Plei Ku, chuyện này nhanh chóng đến tai dịch. Chúng tăng cường bố phòng Plei Ku và tung thám báo ra vùng Đức Cơ, Thanh An để kiểm chứng và về báo lại có sự việc như vậy.

Để dịch bị ấn tượng sâu vào khả năng ta đánh Plei Ku, Tư lệnh Vũ Lăng lệnh cho Sư đoàn 968 mới từ Hạ Lào sang thay Sư đoàn 320 tổ chức tiến công Thanh An làm bàn đạp áp sát gần thị xã và cho pháo Đ.74 nòng dài bắn vào bộ tư lệnh quân đoàn 2 và sân bay Cù Hanh.

 

Sau khi nhận được lệnh, anh Thanh Sơn điện hỏi tôi: "Đánh thật hay đánh nghi binh?". Tôi trả lời: "Đánh thật". Anh Thanh Sơn còn điện hỏi lại anh Quốc Thước cũng nhận được câu trả lời là đánh thật! Anh Thước còn nói thêm: "Các anh phải đánh chiếm bằng được Đồn Tầm và điểm cao 535, vây ép Thanh An, uy hiếp thị xã Plei Ku buộc địch phải tăng cường phòng thủ, điều động lực lượng ra giải tỏa đánh phản kích để giam chân quân địch ở đó.

Đối với lực lượng vũ trang địa phương, Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Lắk quyết định sử dụng Tiểu đoàn 301 bộ binh, Tiểu đoàn 401 đặc công và các đơn vị trực thuộc do anh Đỗ Minh Cảnh - Tỉnh đội trưởng và anh M'lô Nguynh - Chính trị viên phó. Tỉnh ủy còn bàn bạc cụ thể các mặt về công tác tiếp quản thị xã Buôn Ma Thuột, quyết định thành lập Ủy ban quân quản do anh Yblốc Eban - Phó Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Chủ tịch và anh Lê Chí Quyết, Phó Bí thư tỉnh ủy làm Bí thư Đảng ủy quân quản.

Theo tôi nắm được, trước khi ta đánh vào Buôn Ma Thuột trong vùng địch kiểm soát ở tỉnh Đắk Lắk đã có 624 cơ sở cốt cản gồm 160 cơ sở chính trị, binh vận, 144 du kích mật và 228 cơ sở khác. Trong thị xã có 120 gia đình cơ sở cũ, đó là chỗ dựa cho đội quân chính trị tiến vào thị xã. Chính nhờ những cơ sở này cung cấp thường xuyên những tin tức mới nhất của địch trong thị xã cho ta nên Bộ chỉ huy quân sự tỉnh và Ban chỉ huy quân sự thị xã đã chuẩn bị xong kế hoạch, lực lượng của địa phương để phối hợp với bộ đội chủ lực.

Những ngày cuối tháng 1, đầu tháng 2 năm 1975, Bộ Tư lệnh Mặt trận làm việc suốt ngày đêm để giao nhiệm vụ cho các đơn vị. Trong sổ tay công tác của tôi còn ghi:

Tôi ngày 24 tháng 1, giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 95A.

Ngày 25 tháng 1, giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 320 và Sư đoàn 316.

Ngày 26 tháng 1, nghiên cứu lần cuối phương án đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột.

Sáng ngày 27 tháng 1, giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 10. Chiều ngày 27 tháng 1, nghiên cứu lần cuối phương án hai đánh thị xã Buôn Ma Thuột.

Sáng ngày 28 tháng 1, nghiên cứu lần cuối phương án đánh quân giải tỏa khi địch có phòng ngự dự phòng.

 

Sáng ngày 29 tháng 1, anh Nguyễn Kim Tuấn, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320 báo cáo quyết tâm bổ sung...

Ngày 30 tháng 1, Bộ Tư lệnh giao nhiệm vụ cho các đơn vị: Trung đoàn 40 và Trung đoàn 675 pháo binh, Trung đoàn 234, Trung đoàn 593, Trung đoàn 232 pháo cao xạ, Trung đoàn 273 xe tăng, Trung đoàn 198 đặc công...

Ngày 31 tháng 1 năm 1975, Tư lệnh Vũ Lăng gọi anh Quốc Thước và tôi giao nhiệm vụ: Viết lại kế hoạch chiến dịch và quy định thời gian trong 5 ngày phải xong. Tư lệnh Vũ Lăng lưu ý chúng tôi một số vấn đề ở phần mục đích, phương châm tác chiến cần viết cho chặt chẽ hơn. Phần cách đánh và tổ chức, công tác bảo đảm đường sá cơ động cho pháo binh, xe tăng, công tác bảo đảm kỹ thuật xăng dầu, đạn dược, ăn uống của bộ đội, v.v... cần phải rõ từng cấp chịu trách nhiệm, công tác bảo đảm cho các mũi, các hướng, hiệp đồng thời gian, đặc biệt với đơn vị thọc sâu phải viết ngắn gọn nhưng rõ để khi thực hiện được thuận lợi.

Ngày 1 tháng 2 năm 1975, Bộ Tư lệnh giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 254 và Trung đoàn 271.

Để tăng cường lãnh đạo, chỉ huy chiến dịch, ngày 7 tháng 2 năm 1975, anh Hoàng Minh Thảo đến Tây Nguyên giữ chức Tư lệnh chiến dịch.

Do ý nghĩa quan trọng của chiến dịch Tây Nguyên - chiến dịch mở đầu của cuộc tổng tiến công chiến lược nên Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã cử Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng làm đại diện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh vào Tây Nguyên tổ chức sở chỉ huy tiền phương của Bộ trực tiếp chỉ đạo chiến dịch.

Trung tuần tháng 2 năm 1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên hình thành trên cơ sở lấy Bộ Tư lệnh và cơ quan mặt trận làm nòng cốt. Trung tướng Hoàng Minh Thảo - Tư lệnh, Đại tá Đặng Vũ Hiệp - Chính ủy; các anh Vũ Lăng, Phan Hàm, Nguyễn Năng, Nguyễn Lang làm Phó Tư lệnh; anh PhíTriệu Hàm - Phó Chính ủy. Bên cạnh Bộ Tư lệnh chiến dịch còn có anh Bùi San, đại diện Thường vụ Khu ủy Khu 5 cùng một bộ phận cơ quan giúp việc. Đi sát với Bộ Tư lệnh chiến dịch có đại diện của các tỉnh ủy Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum.

Chiều ngày 14 tháng 2 năm 1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch báo cáo quyết tâm và kế hoạch tác chiến chiến dịch với Đại tướng Văn Tiến Dũng. Theo sự thống nhất trong Bộ Tư lệnh, các anh Vũ Lăng, Đặng Vũ Hiệp và Nguyễn Quốc Thước báo cáo (anh Hoàng Minh Thảo mới đến Tây Nguyên đang ở giai đoạn nắm tình hình). Đúng giờ làm việc, anh Vũ Lăng lên cơn sốt rét, không thể có mặt. Sau khi nghe anh Quốc Thước báo cáo phương án, kế hoạch tác chiến chiến dịch, Đại tướng Văn Tiến Dũng đặt vấn đề: Vì sao Sư đoàn 10, một đơn vị có kinh nghiệm đánh công sự vững chắc mà không đưa vào tiến công thị xã Buôn Ma Thuột ngay từ đầu. Anh Đặng Vũ Hiệp và anh Quốc Thước đã trình bày lý do, nhưng xem ra ý kiến chưa đủ sức thuyết phục đối với Đại tướng.

 

Khi cuộc họp diễn ra, anh Vũ Lăng vẫn đang lên cơn sốt, người run lẩy bẩy nhưng anh vẫn sốt ruột chờ tin Bộ Tư lệnh làm việc với Đại tướng Văn Tiến Dũng. Tranh thủ giờ nghỉ, anh Hiệp đến thăm anh Vũ Lăng và kể lại vắn tắt tình hình, cuối cùng anh Hiệp nói vui: "Có chết thì ngày mai hẫng chết. Còn bây giờ ông phải đến mà "cãi" về chuyện sử dụng Sư đoàn 10 đánh Đức Lập".

Trước đề nghị của anh Hiệp, mặc dù cơn sốt chưa qua song anh Vũ Lăng đã cố gắng đến phòng họp và báo cáo chi tiết việc sử dụng Sư đoàn 10. Anh Vũ Lăng nói rành rọt ý định của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên trong việc sử dụng sư đoàn này. Chính vì Sư đoàn 10 có kinh nghiệm đánh công sự vững chắc nên phải sử dụng Sư đoàn 10 (thiếu Trung đoàn 24) vào trận Đức Lập. Bởi vì chúng tôi xác định việc đánh căn cứ Đức Lập phải bảo đảm chắc thắng và chỉ được phép đánh thắng trong thời gian từ một đến hai ngày. Sau đó Sư đoàn 10 phải nhanh chóng cơ động lực lượng về bắc Buôn Ma Thuột làm lực lượng dự bị cho Sư đoàn 316 sẵn sàng tham gia trận then chốt, dứt điểm Buôn Ma Thuột nếu địch ngoan cố chống cự khi Sư đoàn 316 chưa giải quyết được. Đồng thời Sư đoàn 10 sẵn sàng đánh địch phản kích. Hơn nữa, để thực hiện nhiệm vụ được giao hồi tháng 10 năm 1974, Sư đoàn 10 đã được bố trí tập kết ở hướng Đức Lập. Nếu điều sư đoàn này trở lại thị xã vừa mất thời gian, vừa gây thêm nhiều khó khăn nhất là vấn đề giữ bí mật.

Sau khi nghe anh Vũ Lăng trình bày, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã cân nhắc và cuối cùng nhất trí phê chuẩn kế hoạch. Đại tướng nhắc nhở Bộ Tư lệnh chiến dịch và cơ quan chúng tôi, thời gian gấp, nhiệm vụ nặng cần tổ chức bảo đảm chu đáo để đưa nhanh Sư đoàn 10 về hướng Buôn Ma Thuột, sau khi đã giải phóng xong Đức Lập.

Theo phương án đã được đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh thông qua, các đơn vị tham gia chiến dịch Tây Nguyên được giao nhiệm vụ chính thức như sau:

- Sư đoàn 968 (thiếu) có nhiệm vụ hoạt động nghi binh, tích cực giam chân khối chủ lực của quân đoàn 2 ngụy ở Kon Tum và Plei Ku.

 

- Sư đoàn 320 có nhiệm vụ cắt đường 14 đoạn Cẩm Ga (Thuần Mẫn), sẵn sàng tiêu diệt địch từ Plei Ku đi giải tỏa Buôn Ma Thuột hoặc từ Buôn Ma Thuột lên. Sau khi cắt được Cẩm Ga, sư đoàn này phát triển bao vây và tiêu diệt địch, giải phóng thị xã Cheo Reo.-

- Trung đoàn 25 cắt đường 21 và chặn đánh địch ở đoạn tây Khánh Dương, tiêu diệt địch ở Buôn Ma Thuột rút chạy, hoặc địch từ đồng bằng Khu 5 lên theo trục đường 21.

- Trung đoàn 95A đánh cắt giao thông và tiêu diệt địch trên đường 19 đoạn tây An Khê phối hợp với Sư đoàn 3 Quân khu 5 đánh địch trên đoạn đông An Khê.

- Sư đoàn 316, Trung đoàn 95A, Trung đoàn 24 (Sư đoàn 10), Trung đoàn đặc công 198, ba trung đoàn cao xạ 234, 593 và 232, Trung đoàn xe tăng 273, hai trung đoàn công binh 7 và 575, Trung đoàn thông tin 29 có nhiệm vụ tiêu diệt địch, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột.

- Sư đoàn 10 cùng một lúc phải thực hiện hai nhiệm vụ:

1. Sử dụng sư đoàn (thiếu Trung đoàn 24), một cụm pháo binh 122 ly và 155 ly chi viện, có nhiệm vụ nhanh chóng dứt điểm quận lỵ Đức Lập và quét sạch quân địch từ Đức Lập đến ngã ba Đắk Song trong thời gian từ 1 đến 2 ngày. Đánh xong Đức Lập, Sư đoàn nhanh chóng cơ động về bắc Buôn Ma Thuột, sẵn sàng tham gia dánh dứt điểm Buôn Ma Thuột, đồng thời sẵn sàng đánh địch phản kích. Nếu Sư đoàn 320 gặp khó khăn thì tăng cường lực lượng giải quyết Cheo Reo.

2. Tổ chức một sở chỉ huy nhẹ của sư đoàn, chỉ huy Trung đoàn 24 và Trung đoàn 95A tác chiến trên hướng đông bắc và hướng tây Buôn Ma Thuột. Mục tiêu của Trung đoàn 95A là đánh chiếm sân bay thị xã và Ngã Sáu, tiểu khu Đắk Lắk. Trung đoàn 24 sử dụng 1 tiểu đoàn được tăng cường 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội thiết giáp, 1 đại đội cao xạ hình thành lực lượng thọc sâu của chiến dịch đánh chiếm sở chỉ huy sư đoàn 23, dùng 1 tiểu đoàn bao vây Chư Nga và 1 tiểu đoàn làm dự bị.

Bị các hoạt động nghi binh chiến dịch của ta làm cho lạc hướng, ngày 18 tháng 2 năm 1975, trong cuộc họp với các tướng lĩnh để kiểm điểm tình hình thực hiện kế hoạch phòng thủ quốc gia "Lý Thường Kiệt 1975" và các biện pháp của hội đồng an ninh quốc gia đã quyết định trước đây, Nguyễn Văn Thiệu cho rằng: "Quân khu 2 sẽ là chiến trường trọng điểm, quân khu 1 và quân khu 3 là chiến trường phối hợp. Cần đề phòng Cộng sản có thể đánh vào một số thị xã nhỏ, nhất là các thị xã hẻo lánh ở Tây Nguyên như Quảng Đức, Kon Tum".

Sau cuộc họp ở phủ tổng thống về, tướng Phạm Văn Phú -tư lệnh quân đoàn 2 kiêm tư lệnh quân khu 2 ngụy đã triệu tập chỉ huy trưởng đơn vị, trưởng tiểu khu trong quân khu để nhận định tình hình, bàn kế hoạch đối phó. Họ đều cho rằng hình thức bố trí lực lượng của ta "nhẹ duôi nặng dầu" (ý nói các sư đoàn chủ lực của ta đều tập trung ở hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai) nếu đánh lớn ta sẽ lấy Kon Tum, Plei Ku làm "điểm", chiến sự sẽ diễn ra quyyết liệt. Nơi diễn ra sôi động thứ hai có thể là Quảng Đức vì hiện ta đã chiếm được thị xã Phước Long nên cần đánh Quảng Đức để mở thông đường hành lang vào Nam Bộ, do đó Quảng Đức nổi lên trong tình hình hiện nay.

Từ nhận định trên, tướng Phú ra lệnh cho các đơn vị phòng thủ Kon Tum và Plei Ku cần củng cố hệ thống bố phòng, tăng cường sục sạo ra xa để sớm phát hiện ý đồ của ta và tổ chức tiến công từ tuyến; ngoài để tiêu hao, làm giảm sức tiến công của ta khi đánh sấu vào trong thị xã. Tướng Phú vẫn chủ quan cho rằng Buôn Ma Thuột có thể bị đánh nhưng quy mô không lớn vì chỉ là "diện" nên chưa cần tăng lực lượng. Ngoài ra Phú còn chỉ thị cho các đơn vị dưới quyền chú trọng điều tra sự di chuyển của hai Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320. Tuy vậy, Phú vẫn tỏ ra lo âu, nên sau cuộc họp Phú đã trao đổi riêng với chuẩn tướng Trần Văn Cẩm - phụ tá hành quân và Lê Khắc Lý - tham mưu trưởng quân đoàn 2 là ông ta rất sợ tình hình có nhiều đột biến ngoài dự kiến, trong khi lực lượng của quân khu vừa ít lại phải dàn mỏng và gắn chặt vào từng nơi. Tướng Phú than phiền rằng: Hôm gặp tổng thống Thiệu xin tăng thêm quân dù là lực lượng đã quen chiến trường làm quân ứng cứu nhưng không được Thiệu chấp nhận. Cuối cùng Phú chỉ được tăng thêm 2 liên đoàn biệt động quân.

Đêm 18 tháng 2, đại tá Trịnh Tiêu - trưởng phòng tình báo quân khu 2 ngụy nhận được tin "Sư đoàn 10 đã hành quân vào phía nam chuẩn bị dánh Đức Lập, Sư đoàn 320 sang tây Ea H'leo chuẩn bị đánh Thuần Mẫn. Một lực lượng khác đang chuẩn bị đánh Buôn Ma Thuột".

Nhận được tin trên, Trịnh Tiêu đã báo cáo Phạm Văn Phú: Những hoạt động ở Kon Tum và Plei Ku chỉ là hoạt động nghi binh của Việt cộng, ý định thực sự của họ sẽ là đánh vào Buôn Ma Thuột. Phát hiện của cơ quan tình báo làm cho Phú rất lo lắng, nên ông ta đã nghĩ đến việc "có lẽ phải đưa sư đoàn 23 về lại Buôn Ma Thuột".

Nhưng mặt khác, Phạm Văn Phú lại nhận được thông báo của tình báo Mỹ khẳng định rằng tình hình chưa có gì thay đổi, các đơn vị Việt cộng vẫn ở chỗ cũ... Những tin tức trái ngược nhau làm đau đầu tướng Phú. Tuy vậy, ngày 19 tháng 2 năm 1975, Phú vẫn quyết định rút bớt các trung đoàn 45 từ Plei Ku đưa về khu vực Ea H'leo để sục sạo tìm Sư đoàn 320. Nhưng trước đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã lệnh cho sư đoàn này lui quân về phía tây, chỉ để lại những tổ trinh sát bám địch, tuyệt đối tránh đụng độ với chúng.

Trước tình hình diễn biến phức tạp, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã nhận định: "Địch có nghi ta chuẩn bị đánh Đức Lập, Gia Nghĩa, Buôn Ma Thuột, cắt đường 14 ở Thuần Mẫn với một số bằng chứng riêng lẻ. Nhưng địch vẫn chưa phát hiện ý định và lực lượng chiến dịch của ta. Những hoạt động trên mang tính chất rời rạc, cục bộ. Tuy nhiên, ta phải chủ động đề phòng". Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định: "Kiên trì, khôn khéo giữ bí mật ý định và lực lượng ta ở hướng tác chiến chủ yếu (Buôn Ma Thuột). Tích cực hoạt động nghi binh trên hướng Kon Tum và Plei Ku để thu hút trung đoàn 45 về Plei Ku".

Thực hiện ý định trên, Tư lệnh Vũ Lăng nói tôi cho phát một bức điện giả để đánh lừa địch. Nội dung bức điện như sau: "Địch đã bị lừa, cho rằng ta sẽ đánh Buôn Ma Thuột, nên đã đưa trung đoàn 45 xuống phía nam". Tư lệnh quân khu 2 ngụy đã nhận được bức điện trên cùng lúc với các chỉ huy quân sự các tỉnh ở Tây Nguyên.

Sau khi nhận được bức điện của ta. Phạm Văn Phủ càng hoài nghi về nguồn tin đã nhận được và dứt khoát từ bỏ ý định dưa sư đoàn 23 trở lại Buôn Ma Thuột.

Trong khi trung đoàn 45 ngụy đã qua 10 ngày lùng sục ở khu vực Ea H'leo vẫn không phát hiện ra Sư đoàn 320, thì được tin sư đoàn này xuất hiện đang tiến công vào hướng tây Plei Ku. Không giấu nổi bực tức, Phạm Văn Phú ra lệnh đưa ngay trung đoàn 45 về tăng cường sức chống đỡ ở hướng tây Plei Ku. Sáng ngày 3 tháng 3 năm 1975, trung đoàn 45 ngụy từ Ea H'leo vội vã hành quân về lại tây thị xã Plei Ku.

Đêm ngày 3 rạng sáng ngày 4 tháng 3 năm 1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cất đường 19. Từ sáng đến trưa ngày 4 tháng 3, Trung đoàn 95A (anh Lê An Trung đoàn trưởng, anh Trần Kiểu - Chính ủy) đã tiến ra đường 19 tiêu diệt một loạt các vị trí địch trong đó có căn cứ pháo binh la Dun do 1 tiểu đoàn bảo an dóng giữ. Đến chiều hôm ấy, Trung đoàn 95A đã làm chủ đoạn đường dài 20 ki-lô-mét từ ngã ba Plây Bôn đến ấp Phú Yên.

Cùng ngày 4 tháng 3, Sư đoàn 3 Quân khu 5 tuy vừa hành quân từ bắc Bình Định vào, gặp rất nhiều khó khăn về quân số và hậu cần cũng đã tích cực phối hợp đánh cắt đường 19 - đoạn từ đèo Thượng An đến cầu số 13, diệt 2 đại đội và tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 1 trung đoàn 47 ngụy với 316 tên, bắt 52 tên, thu 200 súng và 2 khẩu pháo 105 ly, làm chủ hoàn toàn đoạn đường trên.

Tin đường số 19 bị cắt đứt đã nhanh chóng truyền về Oa-sinh-tơn, đêm 4 tháng 3 hãng thông tấn AP đã loan tin: "Đường số 19, con đường tiếp tế chủ yếu của cao nguyên đã bị cắt đứt. Các trận đánh đã tập trung ở Lệ Trung - đông Plei Ku 16 ki-lô-mét và ở Bình Khê tây Quy Nhơn 40 ki-lô-mét. Nhiều vị trí từ Lệ Trung đến Bình Khê bị tấn công và mất liên lạc diện dài. Một căn cứ pháo binh 105 ly ở tây bắc Bình Khê đã bị cộng sản đánh chiếm".

Trước tình thế con đường huyết mạch nối từ cảng Quy Nhơn lên sở chỉ huy quân đoàn 2 ngụy ở Plei Ku bị cắt đứt, Phạm Văn Phú đã tung liên đoàn biệt động quân số 4 và tiểu đoàn 3 ra đông Plei Ku để phản kích Trung đoàn 95A; đồng thời ông ta lệnh cho sư đoàn 22 ngụy từ bắc Bình Định vào đường số 19 để phản kích lại Sư đoàn 3 của ta. Chủ lực của quân đoàn 2 ngụy vẫn bị hút lên Bắc Tây Nguyên.\

Trên hướng đường số 21, ngày 5 tháng 3 năm 1975, Trung đoàn 25 do anh Lộ Khắc Tâm - Trung đoàn trưởng, Nguyễn Ngãi - Chính ủy chỉ huy tiến công một đoàn xe địch, làm chủ đoạn dường phía đông Chư Cúc con đường chiến lược quan trọng thứ hai nổi từ Nha Trang đi Buôn Ma Thuột đã bị cắt đứt. Địch phải điều chỉ đoàn 2 thiết giáp thuộc trung đoàn 19 từ Bình Thuận ra Khánh Hòa cùng với lực lượng học viên trường biệt động quân ở Dục Mỹ và 2 tiểu đoàn bảo an đối phó với Trung đoàn 25 của ta ở Chư Cúc. Việc Trung đoàn 25 cắt đứt đường 21 đã làm cho Phạm Văn

Phú một lần nữa phải suy nghĩ về Buôn Ma Thuột. Ông tacho rằng: Tại sao Việt cộng đánh Plei Ku, Kon Tum lại có lực lượng vào Buôn Ma Thuột cắt đường 21, hay là đối phươnglại nghi binh? Để phòng tình huống xấu, tướng Phú đã cử đại tá Vũ Thế Quang - phó tư lệnh sư đoàn 23 ngụy về Buôn Ma Thuột với nhiệm vụ mới: tư lệnh chiến trường Nam Tây Nguyên, chỉ huy toàn bộ lực lượng quân ngụy từ Đắk Lắk đến Gia Nghĩa.

Khoảng 17 giờ ngày 5 tháng 3, đoàn xe 15 chiếc của Vũ Thế Quang và tùy tùng trên đường vào Buôn Ma Thuột đã rơi vào ổ phục kích của Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 (anh Phạm Quang Bào Trung đoàn trường, anh Đinh Thế Mỹ -Chính ủy) ở đoạn nam Ea H'leo. 8 chiếc đi đầu bị bắn cháy. 7 chiếc còn lại chạy thoát được về lại Plei Ku, trong đó có xe của Vũ Thế Quang.

Một vấn đề trở ngại cho ta khi triển khai lực lượng ở phía bắc Buôn Ma Thuột là trung đoàn 53 ngụy đang lùng sục ở khu vực này. Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 320 đánh Chư Xê (nam Thuẩn Mẫn) để kéo trung đoàn 53 ra đổi phó, tạo điều kiện cho lực lượng ta ở bắc, tây bắc Buôn Ma Thuột tiếp tục chuẩn bị.

6 giờ ngày 7 tháng 3, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 nổ súng tiến công căn cứ Chư Xê. Sau 40 phút chiến đấu, Tiểu đoàn 3 làm chủ căn cứ này.

Ngày 8 tháng 3, Trung đoàn 48 do anh Lê Quang Bình -Trung đoàn trưởng, anh Đinh Hữu Tấn - Chính ủy chỉ huy được tăng cường 2 pháo 105 ly, 3 pháo 85 ly bắn thẳng tiến công chi khu quân sự Cẩm Ga và quận lỵ Thuần Mẫn. Sau 1 giờ 20 phút, Trung đoàn 48 làm chủ Cẩm Ga và Thuẩn Mẫn, diệt 1 tiểu đoàn bảo an, 2 trung đội cảnh sát và cơ quan chi khu, bắt 121 tên, thu 200 súng (có 2 khẩu pháo 105 ly), 18 xe quân sự. Tiếp đó, ngày 9 tháng 3 Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 đã tiêu diệt hoàn toàn căn cứ Buôn Hồ.

Trận Cẩm Ga, Chư Xê và Buôn Hồ đã làm cho đường 14 -con đường nối liền giữa nam và bắc Tây Nguyên bị cắt đứt.

Tại Buôn Ma Thuột, Vũ Thế Quang đã ra lệnh báo động, rút trung đoàn 53 về phòng thủ thị xã và đưa 1 tiểu đoàn của trung đoàn này lên tăng cường cho Đức Lập.

Sáng ngày 9 tháng 3, Phạm Văn Phú từ Plei Ku bay vào Buôn Ma Thuột gặp Vũ Thế Quang và Nguyễn Trọng Luật, đại tá, tỉnh trưởng Đắk Lắk. Sau khi xem xét toàn bộ tình hình, tướng Phú động viên Vũ Thế Quang: "Hãy sử dụng lực lượng hiện có để cố giữ Buôn Ma Thuột". Đại tá Vũ Thế Quang hỏi lại tướng Phú: "Nếu tiến công vào Buôn Ma Thuột thì bao giờ Việt cộng sẽ bắt đầu?". Tướng Phú trả lời: "Có sớm cũng phải giữa tháng 4. Nhưng họ không thể đánh lớn. Tổng thống Thiệu đã dặn tôi: Nơi nào bị đánh thì cố giữ, Hội nghị Pa-ri sẽ họp lại, ta giữ được nhiều đất thì có giá để mặc cả với đối phương. Vì vậy, không thể rút thêm lực lượng ở Plei Ku để tăng cho Buôn Ma Thuột". Đến bây giờ bộ tổng tham mưu (ngụy) vẫn khẳng định là hướng tiến công chính của Việt cộng ở Tây Nguyên vẫn là Kon Tum và Plei Ku"(!).

Nói xong Phú vội vã lên máy bay trở về Plây Ku.

Địch đang hoang mang thì sáng ngày 9 tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã ra lệnh cho Sư đoàn 10, được tăng cường Trung đoàn 40 tiến công chỉ khu quân sự và quận lỵ Đức Lập. Đây là tuyến phòng thủ vững chắc của địch bao gồm 5 cứ điểm liên hoàn nằm trên đường 14 ở phía tây nam Buôn Ma Thuột. Được sự chi viện của 15 khẩu pháo lớn của Trung đoàn 4 và Trung đoàn 40 (pháo chiến dịch), chỉ sau hơn 3 giờ chiến đấu, Trung đoàn 66 do anh Nguyễn Đình Kiệp - Trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Chí Nguyện - Chính ủy trung doàn chỉ huy đã làm chủ hoàn toàn căn cứ chỉ huy hành quân của sư đoàn 23, một vị trí quan trọng bậc nhất của địch ở Đức Lập.

Cùng lúc đó, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 do anh Nguyễn Đức Cẩm - Trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Ngọc Xuân - Chính ủy chỉ huy tiến công căn cứ Núi Lửa. Chỉ sau 45 phút chiến đấu, Trung đoàn 28 đã làm chủ căn cứ Núi Lửa, toàn bộ quân ngụy trong căn cứ bị tiêu diệt và bắt làm tù binh.

Khi đánh vào quận lỵ Đức Lập, do nắm địch không chắc và tổ chức đột phá không tốt nên đánh đợt một không thành công. Chỉ huy Sư đoàn 10 ngay trong đêm tổ chức nắm địch lại, mở hướng tiến công mới. Đến sáng ngày 10 tháng 3 Sư đoàn 10 mở đợt tiến công thứ hai mới giải quyết xong. Thừa thắng, các chiến sĩ Trung đoàn 66 phát triển đánh chiếm Đắc Sắc và Đức Minh, 2 đại đội bảo an đóng ở đây nhanh chóng bị tiêu diệt và tan rã. Trong khi các đơn vị tiến công quân địch ở Đức Lập thì Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 được lệnh phát triển phối hợp với Tiểu đoàn 2 Trung đoàn đặc công 198 đánh chiếm căn cứ Đắk Song do tiểu đoàn 1 trung đoàn 53 chiếm giữ. Như vậy sau 2 ngày chiến đấu, Sư đoàn 10 (thiếu) đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Đức Lập và Đắk Song, bắt hơn 100 tên, thu 14 khẩu pháo 105 ly, 20 xe tăng, thiết giáp và hàng nghìn quả đạn pháo. Theo kế hoạch, sau khi giải phóng Đức Lập, Sư đoàn 10 đã nhanh chóng cơ động về phía đông thị xã Buôn Ma Thuột làm lực lượng dự bị chiến dịch.

Mờ sáng ngày 9 tháng 3 năm 1975, tại thị xã Buôn Ma Thuột, Vũ Thế Quang chỉ huy trưởng chiến trường phía nam còn đang ở nhà riêng thì nhận được điện báo: Đức Lập đang bị pháo kích mạnh. Quang vội vã đến trung tâm hành quân cùng Nguyễn Trọng Luật - đại tá, tỉnh trưởng Đắk Lắk theo dõi tình hình.

11 giờ trưa ngày 9 tháng 3 năm 1975, Phạm Văn Phú bay tới Buôn Ma Thuột tổ chức cuộc họp khẩn cấp ngay tại trung tâm hành quân sư đoàn 23. Ngoài tướng Phú còn có Lê Trung Tường - chuẩn tướng, tư lệnh sư đoàn 23, Phạm Văn Nghìn - đại tá, tỉnh trưởng Quảng Đức cùng Vũ Thế Quang và Nguyễn Trọng Luật. Cuộc họp vừa bắt đầu thì tướng Phú nhận được tin "Căn cứ 23 và Núi Lửa thất thủ". Tướng Phú đưa ra quyết định: "Tình hình Đức Lập đã quá xấu, không còn khả năng cứu văn, nên không tăng quân cứu viện". Ông ta hứa: Sẽ tăng cho Buôn Ma Thuột 1 chi đội xe tăng để tăng thêm sức phòng thủ và cho Vũ Thế Quang rút 2 tiểu đoàn ở Bản Đôn về bảo vệ ngoại vi thị xã. Cho đến lúc này Phạm Văn Phú vẫn chủ quan cho rằng ta đánh Đức Lập, uy hiếp Buôn Ma Thuột là để nghi binh, có thể vài ngày nữa ta sẽ tập trung tiến công Kon Tum và Plei Ku.

Nhưng điều bất ngờ lớn nhất đối với những người chỉ huy quân đội Mỹ - ngụy ở Sài Gòn và ở Tây Nguyên đã tới.

Đến thời điểm này có thể kết luận: Chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975 chia làm hai giai doạn:

- Giai đoạn 1: Thực hành nghi binh chiến dịch và thu hút chủ lực quân đoàn 2 ngụy tập trung phòng thủ bắc Tây Nguyên, Plei Ku - Kon Tum. Đồng thời cơ động chủ lực chiến dịch xuống Nam Tây Nguyên lập thế trận sẵn sàng tiến công các mục tiêu đã được chuẩn bị theo phương án trong điều kiện địch không có phòng ngự dự phòng.

- Giai đoạn 2: Thực hành các trận tiến công chiếm các mục tiêu trọng yếu và đánh bại lực lượng tăng viện phản kích... theo kế hoạch chiến dịch...

16 giờ ngày 9 tháng 3, từ những vị trí tập kết cách thị xã từ 15 đến 20 ki-lô-mét, 12 trung đoàn bộ binh và binh chủng đã hình thành 5 mũi tiến công cùng tiến về hướng Buôn Ma Thuột. Ở hướng tây, dẫn đầu đoàn xe cơ giới là các đơn vị xe tăng tiến theo dấu lộ tiêu do công binh cắm sẵn xuyên qua các khu rừng để tiến ra bờ sông Sê-rê-pốc. Cây trên đường vẫn đứng nguyên, nhưng gốc cây đã được các chiến sĩ công binh cưa trước ba phần tư và ngụy trang kín đáo, nên xe tăng chỉ cần húc nhẹ là cây đổ và con đường mới hình thành cho xe qua. Công binh Sư đoàn 316 đã chuẩn bị đủ các loại phương tiện: thuyền độc mộc, thuyền cao su, bè nứa, móc ròng rọc vào dây cáp căng giữa hai bờ để đưa từng tiểu đoàn vượt sang bờ phía đông.

Ở phía bắc, trung đoàn 53 ngụy còn chiếm giữ khu vực Quảng Nhiêu. Mê Van nên đến ngày 8 tháng 3 mạng đường ở hướng này vẫn còn từ 10 đến 12 ki-lô-mét chưa làm xong. Sau khi trung đoàn 53 rút đi, chúng tôi chỉ đạo Trung đoàn công binh 575 phải làm suốt đêm ngày và đến 23 giờ ngày 9 tháng 3 đã hoàn thành xong 3 tuyến đường phía bắc vào Buôn Ma Thuột. Theo số liệu tôi còn ghi lại, tổng số chiều dài các con đường mới làm để vào Buôn Ma Thuột là 336 ki-lô-mét, với 3 bến phà, 2 ngầm và nhiều bến vượt cho bộ binh.

Đúng 2 giờ 3 phút sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Trung đoàn đặc công 198 (do anh Trần Kình - Trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Văn Tích -Chính ủy) tiến công chiếm sân bay thị xã Buôn Ma Thuột. Sau 2 giờ chiến đấu, bộ đội đặc công đã chiếm hai phần ba sân bay thị xã, làm chủ đường Phan Chu Trinh. Một mũi khác đã vượt đường 14 đánh chiếm khu cảnh sát. 2 giờ 16 phút, Trung đoàn 198 đánh chiếm và làm chủ sân bay Hòa Bình, một mũi khác đánh vào căn cứ trung đoàn 53. Đại đội đặc công 2 được một đồng chí trong đội công tác tỉnh Đắk Lắk dẫn đường đánh chiếm, làm chủ kho Mai Hắc Đế và con đường 429, mở hành lang cho mũi thọc sâu tiến vào thị xã.

Vào thời gian này, các trận địa pháo chiến dịch 105, 122, 130 ly và các loại hỏa tiễn H12, ĐKB bắt đầu bắn phá dữ dội vào sở chỉ huy sư đoàn 23 và kéo dài từng đợt đến 6 giờ 30 phút.

Dựa vào địa bàn do đặc công mới mở, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95A cùng xe tăng, xe thiết giáp từ hướng đông bắc theo đường Phan Chu Trinh tiến vào đánh chiếm Ngã Sáu và tiểu khu Đắk Lắk.

Trên hướng tây bắc, Trung đoàn 148 Sư đoàn 316 (anh Đỗ Thanh Trì - Trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Khai Mẫn -Chính ủy) dùng 1 tiểu đoàn đánh chiếm điểm cao Chư Ebua. Lực lượng chủ yếu được tăng cường 1 đại đội xe tăng tiến vào khu thiết giáp và khu pháo binh.

Trên hướng tây nam, Trung đoàn 174 Sư đoàn 316 được tăng cường 1 đại đội xe tăng do anh Đào Trọng Lịch - Trung đoàn trường, anh Nguyễn Văn Xướng - Chính ủy chỉ huy dùng Tiểu đoàn 2 đánh chiếm điểm cao Chư Duê. Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 3 đánh vào kho xăng sư đoàn 23 và các đơn vị trực thuộc của sư đoàn này ở phía nam đường 429.

Trên hướng tây, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24 Sư đoàn 10 do anh Trương Quang Oánh - Tiểu đoàn trưởng chỉ huy được tăng cường 1 dại đội xe tăng, 1 đại đội thiết giáp (gồm 16 xe tăng T54 và xe K63) của Trung đoàn 273 hình thành mũi thọc sâu binh chủng hợp thành dưới sự chỉ huy của anh Trương Văn Việt Trung đoàn phó Trung đoàn 24 theo đường 429 tiến vào sở chỉ huy sư đoàn 23.

Trên hướng nam, khi Trung đoàn 198 nổ súng thì Trung đoàn 149 Sư đoàn 316 (anh Nguyễn Văn Đạo - Trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Văn Hoạt - Chính ủy) còn cách mục tiêu khá xa, bộ đội vừa đi vừa chạy để kịp thời gian hiệp đồng. Trung đoàn này phải vượt qua con suối lớn, nước sâu nên mất khá nhiều thời gian. Địa hình hướng nam toàn nương rẫy trống trải, dịch phát hiện cho máy bay oanh tạc trúng đội hình. Riêng Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 149 được dội công tác dẫn đường, đến 11 giờ 30 phút tiểu đoàn này đã chiếm được quận lỵ Hòa Bình. Quá trình phát triển chiến đấu, các trung đoàn cao xạ 232 và 234 theo sát đội hình tiến công của bộ bình và xe tăng, bắn rơi 6 máy bay A.37, buộc máy bay địch phải nâng độ cao.

Phối hợp với bộ đội chủ lực, Đại đội 1 Tiểu đoàn 301 và các đội xung kích của thị xã Buôn Ma Thuột đã phát triển vào các khu phố tảo trừ truy quét tề diệp, bọn địch lẩn trốn trong dân, bảo vệ trật tự trị an trong thị xã.

Cùng tiến với cánh quân hướng tây bắc là đoàn cán bộ vận động chính trị gồm 83 người do anh A Hoanh dẫn đầu đã vượt qua khu liên hợp pháo binh, thiết giáp vào chùa Khải Doan. A Hoanh kể lại: Khi các cơ sở cũ trong thị xã gặp lại những người cán bộ năm xưa họ hết sức vui mừng bởi vì suốt 7 năm qua lòng dân thị xã Buôn Ma Thuột vẫn son sắt với cách mạng, với Đảng. Và không ít người, có lúc nào đó chao đảo, giảm bớt lòng tin thì lúc này họ đã hăng hái như những ngày Tết Mậu Thân năm nào dẫn đường cho cán bộ và bộ đội, truy tìm phát hiện những tên ác ôn có nhiều nợ máu còn ẩn nấp, kêu gọi ngụy quân, ngụy quyền đầu hàng, nộp vũ khí.

Qua một ngày, trên cả bốn hướng bộ đội ta chiến đấu rất ngoan cường táo bạo, dũng cảm mãnh liệt thọc sâu, hiệp đồng giữa bộ bình và pháo binh, bộ bình và xe tăng, giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương, làm chủ phần lớn các mục tiêu quan trọng trong thị xã Buôn Ma Thuột và các cứ điểm án ngữ vòng ngoài.

Tôi còn nhớ mũi thọc sâu Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24 Sư đoàn 10. Khi chiếc xe tăng đi đầu bị sa lầy, bộ đội ùn lại, máy bay địch oanh tạc vào đội hình. Đồng chí Trương Quang Oánh - Tiểu đoàn trưởng đã bình tĩnh, dũng cảm vượt lên chỉ huy bộ đội và đã anh dũng hy sinh. Khi xe tăng ta tiến vào cửa mở, lúc này khói bụi mịt mù chiến sĩ lái không nhìn rõ đường, bất chấp hiểm nguy, Đại đội trưởng Lê Xuân Chuyển chỉ huy, Trung đội trưởng Nguyễn Đức Lập và Tiểu đội trưởng Kiểu Hải Âu cầm cờ đứng hai bên cửa mở làm lộ tiêu cho xe tăng mũi thọc sâu tiến vào. Bùi Đức Chín và 9 chiến sĩ của Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24 Sư đoàn 10 đã anh dũng hy sinh ở khu vực cột cờ khu truyền tin. Trung đội trưởng Nguyễn Quang Trung (Trung đoàn 148) trước tình huống cửa mở hẹp, xe tăng và bộ binh bị ùn lại, không thể để đồng đội bị thương vong, anh đã ôm bộc phá xông lên dưới làn đạn bắn thẳng của địch, mở rộng đường cho xe tăng ta tiến công và dẫn đầu trung đội đánh vào bên trong...

Đêm ngày 10 tháng 3, sau khi nghe tôi báo cáo tình hình, Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận định: "Trong ngày đầu tiến công vào thị xã, ta đã thu được thắng lợi lớn, đã chiếm được 2 mục tiêu quan trọng là sân bay thị xã và tòa tỉnh trưởng, khống chế được sân bay Hòa Bình. Các mũi đều đánh tốt, riêng mũi phía nam có khó khăn, thắng lợi thu được chưa tương xứng với tổn thất của bộ đội. Hệ thống chỉ huy, phòng ngự của địch bị rối loạn. Mặc dù lực lượng tại chỗ kết hợp với không quân phản kích ác liệt, nhưng không đẩy lùi được lực lượng ta ra khỏi thị xã nên binh lính, sĩ quân ngụy hoang mang cực độ. Tuy vậy, bọn đầu sỏ, ác ôn vẫn cố chống lại. Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương: Tập trung lực lượng mạnh nhanh chóng tiêu diệt sở chỉ huy sư đoàn 23 và các mục tiêu còn lại trong thị xã. Triển khai lực lượng sẵn sàng đánh phản kích, đồng thời khẩn trương tiêu diệt các căn cứ bàn đạp Bản Đôn, Chư Nga, Buôn Hồ, trói chặt địch ở Buôn Ma Thuột, không cho lực lượng cơ động bên ngoài ứng cứu. Đưa lực lượng cao xạ áp sát thị xã, bảo vệ đội hình tiến công của ta và bảo vệ nhân dân, điều một bộ phận lực lượng sang phía đông bắc sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không.

Từ 6 giờ đến 8 giờ sáng ngày 11 tháng 3, pháo binh chiến dịch bắn cấp tập liên tục suốt 2 tiếng đồng hồ. Khi pháo binh vừa ngừng, các mũi binh chủng hợp thành của ta xung phong đánh chiếm sào huyệt cuối cùng của quân ngụy ở Buôn Ma Thuột. Địch cho máy bay ném bom ngay trên đường phố. Xe tăng M48, đại liên, súng cối, tiểu liên AR15 từ các lỗ châu mai, lô cốt cố thủ bắn như trút đạn trước cổng sư đoàn bộ sư đoàn 23. Các chiến sĩ bộ binh bám sát, yểm hộ cho xe tăng diệt các ổ đề kháng của địch; các chiến sĩ xe tăng luôn luôn tiến trước, mở những mũi đột kích mạnh tiêu diệt xe tăng và hỏa điểm địch. Trung đoàn 95B và Đại đội xe tăng 4 từ tiểu khu Đắk Lắk tiến công sang hậu cứ sư đoàn 23 hợp điểm với mũi tiến công phía tây.

Xe tăng 980 do Đại đội trưởng Đoàn Sinh Hưởng chỉ huy dẫn đầu mũi tiến công phía tây đánh tràn vào cổng chính. Sau khi bắn sập một góc cổng chính, xe tăng 980 xô đổ cổng sắt rồi cùng với xe của Bùi Mạnh Hùng, Phạm Hồng Vách dẫn dắt bộ đội đột phá vào trung tâm chỉ huy sư đoàn 23.

Đến 11 giờ ngày 11 tháng 3, mũi thọc sâu binh chủng hợp thành của Sư đoàn 10 và các mũi tiến công của Trung đoàn 95B, Trung đoàn 174 Sư đoàn 316 đã hợp điểm tại sư đoàn bộ sư đoàn 23 ngụy. Tổ cắm cờ của Đại đội 1 Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24 Sư đoàn 10 do Tiểu đội trưởng Phạm Văn Vy, cùng hai chiến sĩ là Đàm Duy Tộ, Nguyễn Văn Thắng đã cắm lá cờ Quyết thắng của Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên lên trung tâm chỉ huy sư đoàn 23. Dưới sự chỉ huy của chính trị viên Đại đội 3 Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24 Ngô Huy Chuyên, anh em Đại đội 3 đã tiến vào phòng làm việc của Vũ Thế Quang, thu toàn bộ cờ hiệu, con dấu, bản đồ... còn nguyên trên bàn làm việc. Đại tá, tỉnh trưởng Đắk Lắk Nguyễn Trọng Luật cùng một tốp sĩ quan chạy qua khu "quân cụ biệt lập" định trốn vào rừng cà phê thì bị bộ phận thọc sâu Tiểu đoàn 4 (Sư đoàn 10) do Bùi Văn Độ cùng tiểu đội bắt làm tù binh cùng 12 sĩ quan khác. Đại tá Vũ Thế Quang - tư lệnh phó sư đoàn 23 phải chạy một mình, vội vã vứt bỏ cả giày, cả mũ, trên người chỉ mang một cái túi con. Đến tối ngày 11, viên đại tá, tư lệnh phó sư đoàn 23 ngụy Vũ Thế Quang, một người ở phố Sinh Từ, Hà Nội lầm đường theo giặc đã bị các chiến sĩ Trung đoàn 174 bắt khi vượt qua buôn A Lê 2 đi Phước An. Quang được ta đưa lên xe chở về trại giam. Khi qua phà sông Sê-rê-pốc, anh ta hết nhìn trời nhìn mây lại nhìn chiếc phà chở tới 3, 4 chiếc xe ô tô cùng một chuyến, thốt lên: "Chúng tôi thua là phải".

 

Nắm thời cơ bộ đội tiến công, 315 tù chính trị ở nhà tù Buôn Ma Thuột đã nổi dậy phá cửa nhà tù thoát ra ngoài.

Đêm ngày 11 tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận định: Địch mất thị xã nhưng các căn cứ bàn đạp vẫn còn. Chúng có thể dùng lực lượng tăng viện đổ quân xuống các căn cứ bàn đạp phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột. Hướng phản kích chủ yếu sẽ là hướng đông bắc. Đồng thời lệnh cho Trung đoàn đặc công 198 và Trung đoàn 148 (Sư đoàn 316) tảo trừ, giữ địa bàn, củng cố thắng lợi. Trung đoàn 24 (thiếu) phối hợp với Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 95B diệt căn cứ 45. Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 diệt cứ điểm Chư Nga. Tiểu đoàn 21 Đoàn 559 đánh địch, giải phóng Bản Đôn. Trung đoàn 149 Sư đoàn 316 và một bộ phận Trung đoàn đặc công 198 diệt căn cứ Hòa Bình..

Thực hiện kế hoạch tác chiến trên, ngày 12 tháng 3 Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 95B cùng xe tăng tiến công căn cứ 45, diệt và bắt 350 tên địch, thu và phá hủy 245 xe quân sự, thu hơn 400 súng các loại. Chiều ngày 12 tháng 3 Trung đoàn 174 đánh chiếm cầu Thọ Thành trên sông Sê-rê-pốc, diệt và bắt 300 tên địch, thu hàng chục xe.

Ở hướng bắc, sáng ngày 13 tháng 3, Trung đoàn 9 Sư đoàn 320 đánh chiếm quận lỵ Buôn Hồ, phát triển về hướng thị xã Buôn Ma Thuột, diệt căn cứ Chư Pao, thu 4 pháo 105 ly, giải phóng ấp Đạt Lý, thu trên 500 súng các loại, làm chủ dường số 14. Cùng với tiến công quân sự, các đội công tác và cơ sở tại chỗ phát động quần chúng nổi dậy giải tán bộ máy kìm kẹp của địch, thu hàng trăm súng các loại, phá banh các khu đồn Klê B, Buôn Hồ (cũ), Buôn Klát, các ấp Chí An, Thiện An, Đạt Hiếu, An Lạc, Tưng Mai, Buôn Đê, Buôn Vít... giải phóng toàn bộ 12 nghìn dân Kinh - Thượng bị địch dồn về đây...

Đêm ngày 12 tháng 3 năm 1975, Đại tướng Văn Tiến Dũng, đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chuyển điện của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Bức điện có đoạn: "Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nhiệt liệt khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên, anh chị em công nhân viên đã nêu cao tinh thần quyết thắng, anh dũng, mưu trí và sáng tạo, táo bạo và khẩn trương, giành nhiều thắng lợi to lớn ngay trong những ngày đầu chiến dịch. Cần kịp thời nắm thời cơ thuận lợi giành thắng lợi to lớn hơn nữa".

Trong điện. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương còn chỉ thị: "Ở Tây Nguyên cần hết sức chú trọng công tác tiếp quản, chú trọng chính sách dân tộc, nhằm tăng cường đoàn kết các dân tộc và thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc... Nếu có ngoại kiều ở Buôn Ma Thuột cần đối đãi tử tế và có thể thả họ sớm". Cũng trong bức điện này, Thường vụ Quân ủy Trung ương đã quyết định phong quân hàm cấp đại tá cho anh Blốc - Phó Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Đắk Lắk.

Có nhiều cuốn sách viết về trận Buôn Ma Thuột đã lấy 11 giờ ngày 11 tháng 3 năm 1975 - giờ ta cắm lá cờ lên sở chỉ huy sư đoàn 23 xác định là giờ giải phóng hoàn toàn thị xã này. Nhưng ai đã từng tham gia trận đánh vào Buôn Ma Thuột chắc không thể quên, đến trưa ngày 11 và những ngày tiếp sau đó cuộc chiến đấu vẫn diễn ra quyết liệt; thực ra hơn 8.000 tên địch chỉ mới bị diệt một số, còn đại bộ phận vẫn ẩn nấp trong thị xã. Trung đoàn 53 là đơn vị bảo vệ chủ yếu ở thị xã vẫn còn trong căn cứ của nó. Sư đoàn 23, ngay chiều ngày 12 tháng 3 đã bắt đầu đổ quân xuống phía đông thị xã. Tất cả tình hình đó cho thấy ta mới giành thắng lợi quan trọng, nhưng chưa phải là thắng lợi hoàn toàn. Vì vậy, trên đài phát thanh lúc bấy giờ ta vẫn chưa công bố là đã giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột.

Tôi muốn nói kỹ hơn về trận đánh căn cứ trung đoàn 53 ngụy. Gọi là căn cứ trung đoàn 53 nhưng trong đó gồm doanh trại của 2 trung đoàn 44 và 53, nằm về phía đông nam sân bay Hòa Bình, cách trung tâm thị xã 10 ki-lô-mét, được tổ chức phòng ngự rất vững chắc, quanh căn cứ có đến 7 hàng rào kẽm gai xen kẽ giữa các lớp rào là bãi mìn. Lớp tường đất đắp quanh căn cứ cao và dày, các lô cốt và ụ súng bố trí ngay trong tường đất. Hầm chỉ huy của trung đoàn bằng bê tông xây chìm dưới lòng đất. Khi vạch kế hoạch tác chiến, cơ quan tham mưu và Bộ Tư lệnh chiến dịch rất quan tâm đến sân bay Hòa Bình và căn cứ trung đoàn 53. Điều quan tâm này bắt nguồn từ bài học lịch sử mùa hè năm 1972, khi ta bao vây thị xã Kon Tum, quân địch chỉ còn một con đường duy nhất là sân bay Kon Tum. Từ sân bay này quân ngụy đã đủ điều kiện đưa sư đoàn 23 đến để giành giật lại được thị xã Kon Tum. Do vậy, việc đánh chiếm sân bay Hòa Bình và căn cứ trung đoàn 53 là mục tiêu quan trọng phải đánh ngay từ đầu. Vì nhiều lý do công tác bảo đảm ta không thể đưa bộ binh và xe tăng vào để đánh ngay mà chỉ sử dụng Trung đoàn đặc công 198 thực hiện nhiệm vụ này. Khi được lệnh nổ súng, lúc 2 giờ 10 phút ngày 10 tháng 3, Trung đoàn 198 nhanh chóng chiếm được sân bay Hòa Bình. Nhưng khi đánh vào căn cứ 53, Trung đoàn 198 gặp nhiều khó khăn, tuy có đánh chiếm được một số mục tiêu nhưng sau đó địch đã phản kích đánh bật ra và cho xe tăng ra bịt cửa mở. Một số anh em bị thương không ra được đã bị địch bắt, tra tấn dã man. Có anh em đã bị chúng thiêu sống hết sức man rợ.

Căn cứ 53 còn thì sân bay Hòa Bình có nguy cơ bị địch chiếm lại và sẽ là bàn đạp để địch đưa quân tái chiếm Buôn Ma Thuột. Do vậy Bộ Tư lệnh sử dụng Trung đoàn 149 Sư đoàn 316 diệt căn cứ 53.

Ngày 14 tháng 3 Trung đoàn 149 đánh nhẩm vào khu điều vận sân bay, đến khi tiến sang căn cứ 53 đã bị địch chặn lại. Ngày 15 tháng 3, Trung đoàn 149 tiến công lần thứ hai, nhưng trung đoàn bị máy bay địch đánh trúng đội hình, bộ đội bị thương vong, cuộc tiến công vào căn cứ 53 vẫn không thành. Địch càng ngoan cố chiếm giữ, chờ quân tiếp viện. Lúc này, 1 đại đội thám kích sư đoàn 23 đổ bộ bằng máy bay lên thẳng đang tìm đường vào căn cứ, trung đoàn 45 ngụy cũng đã đổ xuống cách đó không xa. Lê Trung Tường - sư đoàn trưởng sư đoàn 23 đã về Phước An. Rõ ràng địch đang nỗ lực dùng đòn phản đột kích chiến dịch bằng đổ bộ đường không để giành lại Buôn Ma Thuột.

Chiều ngày 16 tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch giao cho Sư doàn 10 sử dụng Trung đoàn 66 được tăng cường 1 đại đội xe tăng T54 tiêu diệt căn cứ 53. Sau khi nhận lệnh, Trung đoàn trưởng Nguyễn Đình Kiệp dẫn cán bộ đi trước trinh sát, đồng thời lệnh cho bộ đội hành quân bám theo. Sau 3 giờ chiến đấu quyết liệt, Tiểu đoàn 7 dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Hoàng Ngọc Toái và Chính trị viên Phạm Quang Vinh; Tiểu đoàn 9 do Bạch Công Nghĩa - Tiểu đoàn trưởng và Phạm Chào (phái viên của Ban chính trị Trung đoàn 66 được cử làm chính trị viên) phối hợp với một bộ phận của Trung đoàn 149 từ hướng tây nam đánh vào. Trung đoàn 66 và một bộ phận của Trung đoàn 149 đã làm chủ căn cứ 53. Toàn bộ quân địch trong căn cứ bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh. Đến đây, thị xã Buôn Ma Thuột mới thực sự hoàn toàn được giải phóng.

Bộ Tư lệnh chiến dịch dự kiến trước âm mưu, khả năng phản kích của địch nên trận Đức Lập vừa kết thúc Sư đoàn 10 được lệnh hành quân gấp về phía đông Buôn Ma Thuột để tiêu diệt sư đoàn 23. Đây là đơn vị ngụy quân thường đụng trận với Sư đoàn 10 của ta, nên cả hai sư đoàn của ta và địch đã hiểu biết khá rõ về nhau. Sư đoàn 23 biết khá nhiều về Sư đoàn 10, từ người chỉ huy đến hướng hoạt động của các trung đoàn. Ngược lại, Sư đoàn 10 cũng biết kỹ về sư đoàn 23, biết rõ từng sở trường, sở đoản của các trung đoàn. Trung đoàn 45 thường hoạt động bí mật, hay đánh bất ngờ. Trung đoàn 53 đã ra quân thì pháo bắn dồn dập, có khi chỉ cần nghe tiếng pháo bắn cũng đủ biết trung đoàn 53 sắp ra quân. Còn trung đoàn 44 thường làm lực lượng dự bị, thay thế các trung đoàn kia khi mất sức. Trong sư đoàn 23, trung đoàn 45 là trung đoàn "con cưng" số một, chính Vũ Thế Quang đã từng làm trung đoàn trưởng trung đoàn này trước khi được cất nhắc lên làm sư đoàn phó sư đoàn 23.

 

Ngày 12 tháng 3, được không quân yểm trợ, trung đoàn 45 nhảy xuống vùng điểm cao 581 phía đông bắc căn cứ 53 Hòa Bình, liên kết với tàn quân của liên đoàn biệt động 21. Ngày 15 và ngày 16, chúng ném nốt trung đoàn 44 và sư đoàn bộ 23 xuống Phước An. Ngày 14 tháng 3, Trung đoàn 24 Sư đoàn 10 và đại đội thiết giáp 5 được sự chi viện của pháo binh chiến dịch đã đánh tan tiểu đoàn 2 địch ở khu điểm cao 581. Thừa thắng, bộ đội ta tiến công vào cụm quân của tiểu đoàn 1 trung đoàn 45. Một số sống sót chạy về co cụm ở đồn điền cà phê ngã ba Nông Trại, cùng với liên đoàn 21 biệt động quân bảo vệ phía tây nam quận lỵ Phước An. Ý đồ phản kích của địch bị đập tan, quân địch quay sang co cụm chống đỡ bị động những cuộc tiến công của Sư đoàn 10.

Sáng ngày 16, bộ binh và xe tăng Sư đoàn 10 tiến công vào ngã ba Nông Trại. Trung đoàn 45 ngụy và liên đoàn 21 biệt động quân bị diệt và tan rã. Một số tàn quân chạy về Phước An.

Tại Phước An, tàn quân từ các nơi kéo về hình thành một cụm quân lớn gồm phần lớn trung đoàn 44, trung đoàn 45, liên đoàn 21 cùng sư đoàn bộ sư đoàn 23, do Lê Trung Tường chỉ huy. Ngày 17 tháng 3 Sư đoàn 10 sử dụng các trung đoàn 24, 28 được pháo binh chiến dịch chi viện cùng xe tăng Trung đoàn 273 mở đợt tiến công quyết định vào Phước An. Trước sức tiến công của quân ta, Lê Trung Tường vội leo lên chiếc trực thăng UH1 định chạy trốn, nhưng máy bay chở viên tướng này đã bị đạn phòng không của quân ta bắn rơi. Tường bị thương, được một tốp lính lôi ra khỏi máy bay và công chạy trốn.

Trong hai ngày 17 và 18 tháng 3 ở khu vực Phước An, Sư đoàn 10 đã diệt gần 500 tên, bắt sống 1.600 tên, thu 1.800 súng các loại. Toàn bộ lực lượng ở Phước An hoang mang cực độ, nhiều tên cởi bỏ quần áo lính, mặc quần áo thường dân chạy trốn về Chư Cúc. Ngày 18 tháng 3, Trung đoàn 25 đón dấu đánh quân địch rút chạy. Trung đoàn 28 truy kích đánh trận cuối cùng tiêu diệt cơ bản sư đoàn 23 ngụy, giải phóng vùng đông bắc tỉnh Đắk Lắk.

Như vậy, chỉ trong vòng 5 ngày từ 14 đến 18 tháng 3 bằng 4 trận đánh trên chặng đường dài ngót 40 ki-lô-mét Sư đoàn 10 đã xóa sổ vĩnh viễn sư đoàn 23, chấm dứt sự tồn tại của "những thiên thần lịch sử" (danh hiệu của quân ngụy tặng cho sư đoàn 23 năm 1973).

Sau khi Sư đoàn 10 tiêu diệt sư đoàn 23, tình hình nổi dậy của nhân dân Phước An càng sôi động, bọn phòng vệ dân sự ra hàng, nộp vũ khí. Nhân dân nổi dậy phá tan 13 khu dồn, ấp chiến lược; 70 buôn, 11 dinh điền được hoàn toàn giải phóng, ta giải tán ngụy quyền, thành lập chính quyền cách mạng.

Cùng ngày 18 tháng 3, Ủy ban quân quản tỉnh Đắk Lắk được thành lập. Anh Y Blốc làm Chủ tịch, anh Lê Chí Quyết làm Bí thư Đảng ủy. Ủy ban quân quản ra mắt nhân dân tại khu chùa xã Lạc Giao đường Trần Hưng Đạo. Việc làm đầu tiên của Ủy ban quân quản là thiết lập chính quyền cơ sở. Nhưng việc này khá phức tạp, nhiều nơi phải làm đi làm lại hai ba lần mới tạm ổn. Tiếp đó là việc ổn định đời sống cho nhân dân, trước hết là khôi phục lại hệ thống điện và nước. Hàng nghìn thanh niên các trường Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ tham gia công việc cứu thương, thu vũ khí, canh gác công sở, giữ gìn trật tự... Không ít người xin gia nhập lực lượng vũ trang. Phong trào phụ nữ phát triển khá mạnh, chị em tự nguyện đi gọi chồng con và người thân theo địch trở về với cách mạng, nộp vũ khí, tài liệu. Chị em còn tích cực giúp đỡ cơm nước cho bộ đội.

Bên cạnh Ủy ban quân quản, các đoàn cán bộ tiếp quản của tất cả các ngành hành chính, an ninh, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật cùng đoàn cán bộ của Khu 5 tăng cường dã triển khai toàn diện các mặt công tác, nhanh chóng ổn định đời sống của nhân dân trong thị xã.

Một thị xã đông dân vừa mới giải phóng với bao công việc bộn bề, nhưng Tỉnh ủy đã nắm chắc nhiệm vụ phát triển của chiến dịch đã huy động hàng trăm lái xe và 250 xe tải, xe ca sẵn sàng phục vụ bộ đội chủ lực tiến công về duyên hải và vào Nam Bộ.

Nói đến chiến dịch Tây Nguyên, phải nói tới trận then chốt mở đầu Buôn Ma Thuột. Nhưng sẽ là thiếu sót nếu như không nói rõ trận then chốt thứ hai diễn ra nhanh và rất gọn, tiêu diệt hoàn toàn sư đoàn 23 và liên đoàn biệt động quân số 21 làm cho địch hoang mang, rồi loạn, không những ở cấp sư đoàn, quân đoàn mà còn tác động lớn đến cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn. Từ sai lầm về chiến thuật, chiến dịch dẫn đến sai lầm về chiến lược. Một khi đã sai lầm về chiến lược thì thất bại trong chiến tranh là điều không tránh khỏi.

Thực hiện kế hoạch rút lui khỏi Tây Nguyên, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh, không được thông báo cho các tỉnh trưởng. Ai biết thì rút, không biết thì ở lại Tây Nguyên. Dùng lực lượng địa phương ở lại chống đỡ để bảo vệ cho chủ lực rút lui an toàn, mặt khác đó cũng là cách đánh lạc hướng sự chú ý của đối phương, giữ bí mật cho cuộc rút lui.

Phạm Văn Phú điều các liên đoàn biệt động số 6 và 23 tăng cường cho lữ đoàn kỵ binh 2 bảo vệ đoạn đường từ ngã ba Mỹ Thạch đến quận Sơn Hòa, yểm trợ cho công binh sửa đường, bắc cầu, đoạn đường còn lại giao cho quân địa phương Phú Bổn và Phú Yên bảo vệ. Tuy vậy, Phú vẫn cảm thấy chưa ổn nên đã điều thêm liên đoàn biệt động quân số 7 từ Kon Tum "ưu tiên" cho rút trước để về án ngữ đoạn đường từ phía đông Cheo Reo đến đèo Tu Na. Đêm ngày 14 rạng ngày 15 tháng 3, sư đoàn 6 không quân ngụy đã chuyển cơ quan quân đoàn 2, lãnh sự quán Mỹ ở Plei Ku về Nha Trang. Tuy địch cố giữ bí mật và tiến hành nghi binh, nói là đưa quân về tái chiếm Buôn Ma Thuột nhưng hành động rút chạy vội vã của địch không thể che được mắt dân chúng và binh lính của họ. Đột nhiên, thị xã Plei Ku trở nên hỗn loạn, giá vé máy bay Plei Ku đi Sài Gòn tăng vọt. Dân chúng đã biết cuộc rút chạy của quân đoàn 2, nên cũng vội vã hò nhau chạy theo.

Về phía ta, tối 15 tháng 3, Đại tướng Văn Tiến Dũng gọi điện thông báo cho Bộ Tư lệnh chiến dịch biết có hiện tượng địch rút bỏ Kon Tum, Plei Ku. Tiếp đến từ Hà Nội, Bộ Tổng tư lệnh cũng điện cho Bộ Tư lệnh chiến dịch: Sở chỉ huy tiền phương của quân đoàn 2 và lãnh sự quán Mỹ đã chuyển về Nha Trang. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cũng đã gợi ý cho Bộ Tư lệnh chiến dịch nên nghĩ đến khả năng địch buộc phải bỏ Tây Nguyên.

Sáng ngày 16 tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch vừa triển khai cho chúng tôi kế hoạch tiến đánh sư đoàn 23 trên đường 21 vừa làm kế hoạch đánh địch rút chạy trên đường số 7. Cùng ngày, đài quan sát của ta phát hiện và báo về sở chỉ huy chiến dịch từng đoàn xe địch đủ loại hàng trăm chiếc nối nhau từ ngã ba Mỹ Thạch chạy về Phú Bổn. Được tin trên, Bộ Tư lệnh chiến dịch điện ngay cho anh Kim Tuấn - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320 xác minh hiện tượng trên.

Lúc này, Trung đoàn 48 ở Thuần Mẫn, Trung đoàn 9 ở Phú Nhơn; Trung đoàn 64 (thiếu Tiểu đoàn 9) đang truy kích địch ở Chư Pao, Đạt Lý; Trung đoàn 95B đang làm dự bị cho Sư đoàn 10 ở đường 21. Như vậy, cả Sư đoàn 320 chỉ có Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64 là bố trí ở tây Cheo Reo 7 ki-lô-mét theo đường bản đồ.

Đêm ngày 16 tháng 3, Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64 được lệnh cơ động ngay trong đêm, ngày 17 phải có mặt ở phía nam Cheo Reo nổ súng chặn địch. Nhận được lệnh, Tham mưu trưởng sư đoàn Ngô Huy Phát (lúc này đang chỉ huy Tiểu đoàn 9 và một bộ phận của Trung đoàn 48 làm công tác chuẩn bị phương án tiến công thị xã Cheo Reo), không còn thời gian để tính toán anh chỉ thị cho chỉ huy Tiểu đoàn 9 cho bộ đội hành quân. Thời gian gấp rút, đường xa, đèo dốc khó đi, trời lại tối nhưng các chiến sĩ Tiểu đoàn 9 Sư đoàn 320 hiểu rõ giá trị của thời cơ, anh em đã tìm nứa khô đốt đuốc, soi đường vượt qua rừng khộp, tắt qua dãy núi đá tai mèo để đến nhanh đường 7. Cuộc chạy đua với địch của chiến sĩ Tiểu đoàn 9 diễn ra khẩn trương, quyết liệt. Đến 16 giờ ngày 17 tháng 3, Đại đội 11 Tiểu đoàn 9 đã đến đường số 7 ở phía đông nam Cheo Reo 4 ki-lô-mét.

Trong đêm ngày 16, anh Đặng Văn Khoát - Phó chủ nhiệm hậu cần chiến dịch trực tiếp điều động 110 xe ô tô chở Sư đoàn 320 đang làm nhiệm vụ hướng Buôn Ma Thuột về Thuần Mẫn. Thiếu ô tô, bộ đội tổ chức chạy bộ, ô tô quay lại đón bộ đội dọc đường.

Tiếp theo Tiểu đoàn 9 là toàn bộ Trung đoàn 64, sau Trung đoàn 64 là Trung đoàn 48 và các đơn vị còn lại của Sư đoàn 320.

Sáng ngày 17 tháng 3, một số xe địch chạy lọt về Củng Sơn nhưng đại bộ phận đoàn rút chạy của quân đoàn 2 ngụy vẫn chưa chạy thoát. Trên đường 7 hàng nghìn xe đủ loại nối đuôi nhau ùn ùn đổ về thị xã Cheo Reo. Chúng chạy hàng tư, hàng năm lấn ra cả hai bên đường. Đoàn xe dịch qua khỏi Cheo Reo khoảng 4 ki-lô-mét gặp trận địa phục kích đầu tiên của Tiểu đoàn 9. Bộ đội chưa kịp đào công sự, lợi dụng gốc cây ụ mới nổ súng. Đang cơn hoảng loạn, nghe tiếng súng của ta, cả đoàn xe dịch nhào ra hai bên đường chạy vào rừng. Một số tên lái nhảy ra khỏi xe chạy bộ về Cheo Reo.

 

Tại thị xã Cheo Reo, lúc này quân khu 2 đã biến thành tuyến trung chuyển để đặt sở chỉ huy hành quân và điều hành việc rút chạy. Do đường chưa sửa xong, lại bị quân ta chặn đánh, thị xã Cheo Reo người chật ních và ước chừng khoảng 2.000 xe các loại dậu kín mặt đường và có khoảng hơn một vạn tên dịch, dựng lều bạt nằm ngổn ngang tràn ra cả sân bóng..

Mờ sáng ngày 18 tháng 3, địch củng cố lại đội hình dùng 2 thiết đoàn xe tăng mở đường chạy về Củng Sơn. Tiểu đoàn 9 ngoan cường nổ súng dữ dội vào đoàn xe dịch. Tiểu đội trưởng Nguyễn Vi Hợi thuộc Đại đội 9 Tiểu đoàn 9 bắn 2 quả B.40 diệt 2 xe bọc thép địch. Bọn địch ùn lại, hoảng sợ chạy tán loạn. Hợi chỉ huy tiểu đội vừa chiến đấu vừa kêu gọi dịch đầu hàng. Trong hai ngày 18 và 19 tháng 3, chỉ tính riêng tiểu đội Nguyễn Vì Hợi dã diệt 40 tên, bắt 46 tù binh, bắn cháy 9 xe tăng, xe bọc thép. Riêng Hợi diệt 21 tên địch, bắn cháy 6 xe bọc thép, bắt 6 xe bọc thép khác.

 

11 giờ ngày 18 tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 320 nhanh chóng đánh chiếm thị xã Cheo Reo. Được pháo binh chi viện, Trung đoàn 48 mở đợt tiến công vào sân bay, tòa hành chính, khu cố vấn Mỹ, tiểu khu Phú Bổn, trại lính "Ngô Quyền", ty cảnh sát, ty chiêu hồi, đài phát thanh. Cầu Ea Nu bắc qua sông Ba bị xe tăng dịch tranh nhau vượt qua. Cầu sập, địch cho xe chạy bừa, bãi sông biến thành bãi rác xe. 13 giờ ngày 18, Phạm Văn Phú điện cho Phạm Duy Tất: "Mở đường máu mà thoát thân, xe không đi được thì phá xe, bỏ qua mọi tình huống mà chạy, lấy Củng Sơn làm tụ điểm". Bất lực trước sự tổn thất quá nặng nề, gần như tan rã, Tất cũng thất thểu leo lên máy bay chuồn về Nha Trang bỏ lại quân lính.

18 giờ ngày 18 tháng 3, Sư đoàn 320 hoàn toàn làm chủ thị xã Cheo Reo.

Ngày 21 tháng 3, các chiến sĩ Trung đoàn 64 đuổi kịp lực lượng rút chạy trước của địch và vây diệt chúng ở Phú Túc. Ngày 22 tháng 3, Trung đoàn 64 diệt địch ở Ga Pui. Ngày 23 tháng 3, Trung đoàn 64 tiến sát Củng Sơn.

 

Tại Củng Sơn, địch ùn lại khoảng 6.000 tên, đủ các sắc lính, cùng 40 xe tăng, thiết giáp.

Bộ Tư lệnh Quân khu 5 ra lệnh cho Tiểu đoàn 96 và Tiểu đoàn 13 tỉnh Phú Yên chặn đường rút chạy của địch ở phía đông Củng Sơn.

12 giờ ngày 24 tháng 3, Trung đoàn 64 và bộ đội tỉnh Phú Yên từ ba hướng tiến vào Củng Sơn. Trước sức tiến công mạnh mẽ của quân ta, đội quân ô hợp rối loạn, chống cự yếu ớt rồi nhanh chóng bị tiêu diệt tan rã. 18 giờ ngày 24 tháng 3, Củng Sơn được hoàn toàn giải phóng.

Cùng thời gian, Sư đoàn 320 đánh địch trên đường số 7, Sư đoàn 10 diệt địch ở Phước An. Ngày 17 tháng 3, Trung đoàn 29 Sư đoàn 968 cùng lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Kon Tum tiến vào giải phóng thị xã Kon Tum. Trung đoàn 95A ngược đường 19 cùng lực lượng vũ trang tỉnh Gia Lai tiến vào giải phóng thị xã Plei Ku.

Trên đường 21, ngày 23 tháng 3 Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25 đánh chiếm Khánh Dương, diệt và làm tan rã trung đoàn 40 thuộc sư đoàn 22 ngụy và 4 tiểu đoàn bảo an. Ở Quảng Đức, ngày 24 tháng 3, Trung đoàn 271 cùng lực lượng vũ trang địa phương tiến công giải phóng thị xã Gia Nghĩa.

Cả vùng Tây Nguyên rộng lớn được giải phóng.

Tương quan lực lượng trên chiến trường về mặt chiến lược lúc này nghiêng hẳn về phía cách mạng. Lực lượng chiến lược ngụy suy yếu nghiêm trọng, đột biến và đang tan rã lớn. Toàn miền Nam địch có 4 quân khu thì quân khu 2 và quân đoàn 2 bị đánh thiệt hại nặng nhất buộc phải rút khỏi địa bàn chiến lược Tây Nguyên, khả năng trước mắt của địch không đủ sức phản kích chiếm lại Tây Nguyên, mà chủ yếu co cụm lập phòng tuyến ngăn chặn ta, trọng điểm là Nha Trang, Cam Ranh để giữ an toàn vùng Sài Gòn - Gia Định và đồng bằng sông Cửu Long. Địch vội vã rút lực lượng dự bị chiến lược khỏi Trị - Thiên, đưa lữ đoàn dù số 3 lập lá chắn ngăn chặn ta ở đèo Phượng Hoàng - Ma Đrắc hiểm trở.

Trước sức tiến công của Quân đoàn 2 và lực lượng vũ trang địa phương Trị - Thiên, dịch buộc phải rút khỏi Quảng Trị và bắt đầu "di tản" Huế. Thừa thắng, Quân đoàn 2 và bộ đội địa phương Quân khu Trị - Thiên đập tan tuyến phòng thủ vòng ngoài, đánh chiếm cửa Thuận An, Tư Hiền và từ ba mặt tiến vào giải phóng thành phố Huế. Ở Quân khu 5, Sư đoàn 2 tiến công tiêu diệt địch cùng lực lượng địa phương giải phóng Tuần Dưỡng, Tam Kỳ. Quân và dân Quảng Ngãi tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Ngãi. Đà Nẵng đang bị bao vây bốn mặt, cô lập và rối loạn. Ở Nam Bộ, Sư đoàn 7 Quân đoàn 4 đánh chiếm Định Quán, Hoài Đức, Giá Rai và đang tiến về Lâm Đồng. Lực lượng vũ trang Quân khu 7 tiêu diệt chi khu Dầu Tiếng và các vị trí địch ở Bến Củi, Cẩu Khởi, suối Ông Hùng, ngã ba Đất Sét. Ở Tây Nguyên, mặc dù cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt liên tục, song các đơn vị vẫn còn sung sức, bám sát địch. Cán bộ, chiến sĩ phấn chấn, tin tưởng, khí thế thi đua lập công sôi nổi khắp các đơn vị. Qua chiến đấu, các trung đoàn chủ lực của ta có thêm kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng binh chủng tiến công trong thành phố. Hậu cần dồi dào, đủ sức bảo đảm cho bộ đội ta phát triển. Thời tiết đang là mùa khô rất thuận lợi cho việc cơ động bộ đội và công tác vận chuyển.

 

Ngày 21 tháng 3, tại sở chỉ huy tiền phương Bộ Tổng tư lệnh, Đại tướng Văn Tiến Dũng truyền đạt lệnh giao nhiệm vụ bổ sung của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh cho Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên như sau: "Tiếp tục phát triển chiến đấu trên 3 trục đường 19, 7, 21, giải phóng Phú Yên, Khánh Hòa, phối hợp với Sư đoàn 3 Quân khu 5 giải phóng Bình Định. Mục tiêu chủ yếu là diệt lữ đoàn dù 3 ở đèo Phượng Hoàng Ma Đrắc và tiến xuống giải phóng Nha Trang, Cam Ranh".

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên nhanh chóng tổ chức lực lượng phát triển tiến công trên 3 hướng xuống các tỉnh đồng bằng Nam Trung Bộ.

Ngày 29 tháng 3, Trung đoàn 19 Sư đoàn 968 và Trung đoàn 95A tiến xuống Bình Định hợp điểm với Sư đoàn 3 Quân khu 5. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh Quân khu 5, sau 3 ngày chiến đấu, Sư đoàn 3, Sư đoàn 968 và Trung đoàn 95A đã tiêu diệt sư đoàn 22 (thiếu). Đây là sư đoàn chủ lực cuối cùng của quân đoàn 2 ngụy bị xóa sổ. Thừa thắng, 13 giờ ngày 31 tháng 3, quân và dân Bình Định tiến công thị xã Quy Nhơn. Đến 16 giờ ngày 1 tháng 4 năm 1975, thị xã Quy Nhơn được giải phóng.     

Cùng lúc, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 95A vượt biển đánh chiếm và giải phóng đảo Hòn Tre, Cù Lao Thu.

Cánh quân thứ hai, ngày 28 tháng 3 Sư đoàn 320 đã có mặt ở vị trí tạm dừng miền tây tỉnh Phú Yên. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh đã hết lòng giúp đỡ bộ đội Sư đoàn Đồng Bằng vác đạn, tải thương, dẫn đường.

Ngày 31 tháng 3, được du kích đưa đường, phối hợp chiến đấu, Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64 tiến công Hòn Một. Tiểu đoàn 8 đánh chiếm đoạn đường số 1 từ Phú Khê đến cầu ván Hòa Xuân.

5 giờ sáng ngày 1 tháng 4, các mũi tiến quân của Sư đoàn 320 bắt đầu đánh chiếm Tuy Hòa. Sau 45 phút chiến đấu, ta chiếm được ngã năm, khống chế đường Trần Hưng Đạo ở trung tâm thị xã. Ở phía bắc, Trung đoàn 48 đánh chiếm căn cứ Chóp Chài, phát triển thành 2 mũi dọc đường số 1 và ven biển, tiến công sân bay Đông Tác.

 

6 giờ 48 phút, Trung đoàn 48 vượt sông Đà Rằng đánh chiếm ty cảnh sát, tiểu khu Phú Yên, một mũi đánh vào sân bay. Từ hướng nam, Trung đoàn 64 và Tiểu đoàn 13 bộ đội địa phương diệt địch ở Hòa Hiệp.

9 giờ ngày 1 tháng 4, quân ta hoàn toàn làm chủ các mục tiêu trong thị xã Tuy Hòa.

Trên biển, địch cướp thuyền đánh cá của dân chạy ra khơi lên tàu tẩu thoát. Được bà con ngư dân giúp đỡ, Sư đoàn 320 dùng thuyền đuổi theo truy kích địch.

Ở khu vực sân bay Đông Tác, hàng trăm tên địch chui rúc trong hầm ngầm đụn cát lần lượt ra hàng. Trung đội trưởng Đàm Việt Hùng thuộc Đại đội 9 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64 dẫn đầu mũi truy kích địch ra tận bãi biển Đông Tác. Tại đây trung đội của anh đã bắt sống chuẩn tướng Trần Văn Cẩm -phó tư lệnh quân đoàn 2, tư lệnh chiến trường Phú Yên. Ở một địa điểm khác, chiến sĩ ta đã bắt được viên đại tá Vi Văn Bình trong khi cải dạng chạy trốn. Đây là lần thứ hai sau 3 năm (lần thứ nhất ở Đắc Tô - Tân Cảnh), viên đại tá này bị Trung đoàn 66 bắt làm tù binh.

 

Cánh quân thứ ba gồm Sư đoàn 10, Trung đoàn bộ binh 25, Trung đoàn pháo binh 40, Trung đoàn 273 sau khi giải phóng Khánh Dương được lệnh tiến đánh lữ dù 3 ở đèo Ma Đrắc - Phượng Hoàng mở đường xuống giải phóng Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Ranh.

Sau khi chiếm đèo Phượng Hoàng - Ma Đrắc, đại tá Văn Bá Ninh - lữ đoàn trưởng lữ dù 3 đã cho bắt tay ngay vào củng cố các chốt bảo an có sẵn và đào thêm công sự. Chúng bố trí trận địa pháo ở các eo núi để ta khó phát hiện. Xe tăng, xe thiết giáp được chúng ngụy trang phục sẵn ven đường. Quân dù thực hiện chiến thuật "phòng ngự di tản", lấy đại đội làm đơn vị đóng chốt. Khi phát hiện được lực lượng ta, chúng dùng pháo binh và không quân sát thương. Với thủ đoạn này quân dù hy vọng sẽ tiêu hao và ngăn chặn được ta mà chúng không bị tiêu diệt.

Tư lệnh Vũ Lăng trực tiếp duyệt kế hoạch tác chiến và chỉ huy trận đánh mở đầu thắng lợi. Chúng tôi thống nhất phương án tiêu diệt lữ đoàn dù 3 như sau: Tiêu diệt gọn từng tiểu đoàn địch, thực hiện cài thế bằng lực lượng vây ở phía đông đèo Phượng Hoàng, kết hợp chặt chẽ đột phá chính diện với bao vây chia cắt đánh hai bên sườn, chủ động khắc phục khó khăn phát huy sức mạnh tổng hợp của các binh chủng, giành cho được thế chủ động bất ngờ. Quyết tâm của chúng tôi là cố gắng đánh nhanh diệt gọn lữ đoàn 3, nhưng ta ít thương vong để có lực lượng phát triển ngay xuống đồng bằng. Thế mạnh của lữ đoàn dù số 3 trong phòng ngự chính là chúng chiếm được địa hình đường đèo hiểm trở, lại được 24 khẩu pháo chi viện.

Sáng ngày 29 tháng 3, mở đầu cuộc tiến công tiêu diệt lữ đoàn 3 là trận đấu pháo ác liệt giữa pháo binh ta và pháo binh địch làm rung chuyển cả một vùng đường đèo dài hơn 40km. Những khẩu pháo ta vừa thu được ở Buôn Ma Thuột và những xe đạn pháo từ kho Mai Hắc Đế được chuyển đến đã giáng xuống các trận địa pháo của lữ dù 3 những đòn sấm sét. 12 khẩu pháo của địch đã bị phá hủy, phá hỏng. Sức chi viện hỏa lực của địch bị giảm đi một nửa, bộ binh địch bắt đầu co cụm. Nắm thời cơ lúc địch đang điều chỉnh đội hình, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 10 ra lệnh cho các trung đoàn bộ binh và xe tăng của ta đột phá vào đội hình phòng ngự của địch.

 

Quân dù không được hỏa lực pháo binh chi viện, lại bị quân ta tiến công diệt từng đơn vị; chúng tìm cách co cụm lại chống đỡ nhưng lúc này các trung đoàn của ta đã cắt quân địch ra từng mảng. Tình thần sĩ quan, binh lính dù bắt đầu dao động, hoảng loạn.

Ngày 1 tháng 4, giữa lúc Sư đoàn 320 giải phóng thị xã Tuy Hòa, thì tại khu vực đèo Phượng Hoàng các chiến sĩ Sư đoàn 10, Trung đoàn 25 và xe tăng ta mở đợt tiến công vào toàn bộ các cụm quân của lữ dù 3. Sau 2 giờ chiến đấu lữ dù 3 hoàn toàn bị tiêu diệt. Cánh cửa "thép" Phượng Hoàng - Ma Đrắc - phòng tuyến phía tây Ninh Hòa bị đập tan. Bộ đội ta tràn xuống giải phóng thị trấn Ninh Hòa. Cả Sư đoàn 10 bừng bừng khí thế tiến về đồng bằng. Đơn vị nào có xe thì hành quân xe, không có xe thì hành quân bộ. Khó có thể nói hết niềm vui sướng của cán bộ, chiến sĩ Tây Nguyên khi hành quân đến đỉnh đèo Phượng Hoàng. Phía trước đã nhìn thấy Biển Đông, để lại phía sau là cả một vùng cao nguyên bao la vừa được giải phóng... Trên vai nặng trĩu trang bị, chân rộp phồng sau nhiều ngày hành quân đuổi địch nhưng ai nấy đều hăng hái, đi nhanh như chạy.

 

Sáng ngày 2 tháng 4, Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 cùng xe tăng, pháo binh tiến vào quận lỵ Ninh Hòa. Lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân Ninh Hòa được bộ đội hỗ trợ đã nổi dậy giành quyền làm chủ. Cả thị trấn Ninh Hòa đỏ rợp cờ sao. Nhân dân đã ra đứng chật hai bên đường vẫy cờ hoa, reo mừng bộ đội cách mạng.

13 giờ ngày 2 tháng 4, lực lượng đột kích binh chủng hợp thành của Sư đoàn 10 do anh Vũ Đỉnh Thước - Tham mưu phó sư đoàn chỉ huy theo đường số 1 tiến về thành phố Nha Trang.

Tại Nha Trang, sáng ngày 1 tháng 4, được tin lữ dù 3 thua trận, tuyến phòng thủ đèo Phượng Hoàng - Ma Đrắc bị phá vỡ, Phạm Văn Phú vội vã triệu tập một cuộc họp khẩn cấp, tìm cách "tử thủ" Nha Trang. Ngoài Phú còn có chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang - tư lệnh sư đoàn không quân 6 và viên sĩ quan chỉ huy trường hạ sĩ quan Đồng Đế. Một số sĩ quan có mặt lúc đó, sau bị ta bắt khai rằng: Gọi là họp nhưng thực chất chỉ nghe tướng Phú ra lệnh thiết quân luật 24 trên 24 giờ trong ngày, gấp rút củng cố lại các trận địa phòng thủ, thu gom tàn quân thành lập các đơn vị mới, bổ sung súng dạn cho các đơn vị bảo an, dân vệ. Đồng thời ông ta quyết định thành lập mặt trận Nha Trang và cử Phạm Quốc Thuần làm tư lệnh. Họp xong, Phạm Văn Phú cùng một số sĩ quan tùy tùng dùng máy bay lên thẳng thị sát chiến trường. Ông ta dùng máy bộ đàm mà vẫn không liên lạc được với một đơn vị đồn trú nào. Phủ bay thẳng về Phan Rang, không xuống Nha Trang như dự định.

Bất chấp lệnh giới nghiêm của Phú, nhân viên hành chính ngụy quyền bỏ nhiệm sở, quân lính ngụy bỏ đội ngũ về nhà lo di tản vợ con gia đình. Lính dù, lính biệt động thua trận ùn ùn đổ về Nha Trang cùng hơn một ngàn tên quân phạm vừa phá ngục ra, chúng tranh giành xe cộ, cướp giật của dân làm cho thành phố trở nên hỗn loạn.

17 giờ ngày 2 tháng 4, sau khi đánh tan các chốt của địch ở đèo Ro Tượng, đèo Rù Rì, lực lượng binh chủng hợp thành của Sư đoàn 10 bắt đầu vượt cầu Xóm Bóng tiến vào thành phố. Các ổ đề kháng cuối cùng của quân đoàn 2 ngụy đã bị tiêu diệt. Đoàn xe chở bộ đội tiến đến đâu trật tự ở đó được thiết lập. Nhân dân thành phố biển Nha Trang vây quanh những xe chở bộ đội tặng chiến sĩ ta trái cây, nước ngọt...

Thừa thắng, sáng ngày 3 tháng 4, lực lượng đột kích của Sư đoàn 10 theo đường số 1 tiến về phía nam. Địch cho máy bay ném bom, bắn phá ác liệt chặn đường. Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Mịch, Đại đội súng phòng không A72, Trung đoàn 234 bằng 1 quả đạn A72 đã bắn rơi tại chỗ 1 máy bay A.37, bắt sống giặc lái. Cùng thời gian trên, Tiểu đội phó Đỗ Văn Lỳ ở Đại đội A72 Trung đoàn 234 bắn 1 quả đạn A.72 bắn rơi tại chỗ 1 máy bay A.37. Những ổ để kháng ở hai bên đường liên tiếp đánh vào đội hình quân ta. Vượt qua ác liệt hy sinh, lực lượng đột kích của ta vẫn nhằm hướng quân cảng Cam Ranh xốc tới.

14 giờ ngày 3 tháng 4 năm 1975, Cam Ranh quân cảng lớn, có vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất của Tổ quốc ta đã hoàn toàn được giải phóng, kết thúc chiến dịch Tây Nguyên mùa Xuân 1975. 16 giờ chiều hôm đó, tôi nhận được diện của Sư đoàn 10 báo cáo, anh Đặng Vũ Hiệp, anh Hồ Đệ -Sư đoàn trưởng và anh Lã Ngọc Châu - Chính ủy Sư đoàn 10 đã có mặt tại quân cảng Cam Ranh vừa được giải phóng chia vui với bộ đội và hướng dẫn anh em phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương giữ gìn an ninh chính trị, bảo vệ những thiết bị, kho tàng trong căn cứ và nhanh chóng củng cố lực lượng để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ mới.

Trận quyết chiến Tây Nguyên đã toàn thắng cả vùng Tây Nguyên rộng lớn được giải phóng. Kết quả của chiến dịch Tây Nguyên, đó là hơn 28 nghìn quân địch bị loại, trên 60 vạn nhân dân các dân tộc giành lại quyền làm chủ, có ý nghĩa chiến lược hết sức to lớn... Chúng tôi đã thực hiện lời thể sắt son: Giải phóng nhân dân các dân tộc Tây Nguyên khỏi ách nô lệ, thực hiện "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào" ở Tây Nguyên như lời Bác Hồ đã dạy. Trong suốt chặng đường đó có biết bao kỷ niệm trong cuộc đời. Trong mùa Xuân năm 1975, giây phút xúc động nhất đối với tôi là giây phút chúng tôi cùng đơn vị từ Tây Nguyên tiến về đồng bằng, tới được bờ biển miền Trung dạt dào nắng gió. Không mấy ai trong số hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ đã nhiều năm chiến đấu ở núi rừng Tây Nguyên khi tới được bờ biển lại không trào nước mắt...

Bình luận


© 2023 bởi Nhà Lưu Niệm. Được dùng và bảo mật bởi Wix

bottom of page